Sự trỗi dậy và sụp đổ của một trật tự mới trong toàn cầu
Niall Ferguson, Lisa Klassen và Eric Schmidt
Tháng 11/12 năm 2026
Đỗ Kim Thêm dịch

Lời người dịch: „Các đế chế của trí tuệ nhân tạo: Sự trỗi dậy và sụp đổ của một trật tự mới trong toàn cầu“ là một là một công trình nghiên cứu của Niall Ferguson, Lisa Klaassen và Eric Schmidt vừa được khởi đăng trên tạp chí Foreign Affairs trong số tháng 11/12 năm 2026. Ba tác giả thảo luận về tình trang cạnh tranh khốc liệt hiện nay giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc qua các nỗ lực để chế ngự trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo. Các luận điểm chính của tiểu luận này gồm có:
Trí tuệ nhân tạo trở thành một hình thức công nghệ của đế quốc mà Hoa Kỳ và Trung Quốc đang tận lực xây dựng qua kỹ thuật số mới và kiểm soát các mô hình ngôn ngữ lớn, chip tiên tiến, hạ tầng dữ liệu và vốn khổng lồ. Hai cường quốc này quyết tâm dành mọi ưu thế để quyết định cho vận mệnh của khoa học trong tương lai.
Khác với các đế chế trong lịch lịch sử phải mất nhiều thế hệ để mở rộng, cạnh tranh và đánh bại, các đế chế trí tuệ nhân tạo hiện nay đang hoạt động vượt quá tốc độ máy móc, nghĩa là dồn nén toàn bộ các sinh hoạt thăng trầm của tiến trình phát triển trong trọn một chu kỳ.
Để đối phó trước các cạnh tranh nghiêm trọng nhất trong lịch sử nhân loại, hai siêu cường đang vấp phải nhiều tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Một mặt, họ mong đạt được vị thế thống trị tuyệt đối về mặt quân sự, kinh tế và công nghệ trí tuệ nhân tạo; mặt khác, họ phải sử dụng kinh phí không lồ để tài trợ cho các dự án nghiên cứu tiên phong đồng thời mọi tìm cách mang lại phúc lợi cho an sinh xã hội và tạo được tình trạng quân bình về ngân sách.
Trung Quốc sẽ khó tránh được các bất ổn xã hội, khi nhà nước độc đảng tận lực xây dựng các công cụ giám sát dân chúng chặt chẽ hơn. Trung Quốc và Hoa Kỳ đang mất dần khả năng kiểm soát do việc các tác nhân trí tuệ nhân tạo tự động gây ra. Gần đây, do các tình trạng quản lý không nghiêm nhặt, nên cả hai gặp nhiều bất ổn trong các cơ cấu vận hành ở các hạ tầng trọng yếu hoặc, nếu không may, vô tình sẽ kích hoạt xung đột địa chính trị trong tương lai (có thể so sánh với các tình trạng tiên báo giả hiệu về cuộc tấn công bằng hạt nhân tại Liên Xô vào năm 1983.)
Để giải quyết các nguy cơ này, các tác giả đề xuất một khuôn khổ hợp tác mô phỏng theo các thỏa thuận kiểm soát vũ khí hạt nhân trong thời Chiến tranh Lạnh, cụ thể là đa dạng hóa chuỗi cung ứng, nghĩa là làm bớt sự phụ thuộc vào các điểm nỏng như việc sản xuất chất bán dẫn của doanh nghiệp TSMC tại Đài Loan. Nhìn chung, triển vọng hợp tác của hai cường quốc trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo để phụng sự cho khoa học, hoà bình và nhân loại còn nhiều bất trắc và vì có quá nhiều cảnh báo đầy bi quan của Nick Bostrom và Bill Gates vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Sau đây là bản dịch:
***
Chỉ trong vài năm, Trung Quốc và Hoa Kỳ đều đã xây dựng được một tình trạng mà các nhà sử học tương lai có thể nhận ra là một loại đế chế mới. Sự thống trị của họ không chỉ mở rộng trên lãnh thổ, các tuyến đường thương mại và không phận mà còn bao gồm cả về tri thức. Bằng cách kiểm soát các mô hình ngôn ngữ lớn, chip, cơ sở hạ tầng vật chất và vốn mà nó cung cấp nền tảng cho nhận thức máy móc tiên tiến, Bắc Kinh và Washington không chỉ đạt được những đỉnh cao mới về thành tựu kinh tế và phóng chiếu quyền lực; họ còn đặt ra các điều kiện cho mọi tiến bộ khoa học và trí tuệ trong tương lai. Thuật ngữ „siêu cường về trí tuệ nhân tạo“ không thể nắm bắt được ảnh hưởng và tầm vóc mà các đối thủ này hiện đang nắm giữ. Ngay cả khi không xây dựng liên minh chủ động hay bằng cách cưỡng chế, họ vẫn có thể khiến tất cả các quốc gia khác đang tìm cách thâm nhập vào lĩnh vực trí tuệ nhân tạo tiên tiến đều phải phụ thuộc vào họ.
Lịch sử đế quốc mang theo một lời cảnh báo. Khi không có các lực lượng khác, các đế chế hiếm khi khuất phục trước kẻ thách thức hay những kẻ man rợ đang chuẩn bị tấn công. Thường thì họ thất bại vì việc bảo vệ các vùng chế ngự quá rộng lớn của mình sẽ làm họ kiệt sức, dù là về tài nguyên vật chất, sự đồng thuận của người dân bị trị hay lòng trung thành của giới tinh hoa. Trung tâm đế quốc nhận ra rằng họ không còn có thể kiểm soát vùng ngoại vi – những vùng đã từng khuất phục mình. Thất bại có thể là về mặt tài chính, như đã xảy ra với Đế quốc Anh sau năm 1945, khi các khoản nợ của hai cuộc thế chiến buộc London phải thanh lý các tài sản đế quốc để trả giá cho việc chiến thắng: một nhà nước lo phúc lợi cho dân chúng của thành phố đế quốc. Nó có thể về mặt định chế, như đã từng có đối với đế chế nhà Thanh vào cuối thế kỷ XIX, khi họ thất bại trong việc công nghiệp hóa, cải cách bộ máy hành chánh và tái tạo tính chính danh của triều đại Mãn Châu.
Hoặc cũng có thể là về mặt công nghệ. Chiến hạm Dreadnought của Hải quân Hoàng gia Anh năm 1906 đã trao cho Vương Quốc Anh chiếc pháo hạm mang „toàn đại pháo“ đầu tiên và cùng một cú đánh đã làm cho chiến hạm hiện có trở nên lỗi thời. Chỉ sau một đêm, bước đột phá này đã mở đường cho các đối thủ như Đức, xóa bỏ một thế kỷ lợi thế của Anh đã tích lũy. Cuộc chạy đua vũ trang sau đó đã buộc Vương quốc Anh phải gần như tăng gấp đôi kinh phí cho hải quân từ năm 1900 đến 1914 và tạo xung đột với chính phủ Tự do về các cam kết trong kinh phí cho xã hội mới, như Đạo luật hưu bổng năm 1908. Do đó, câu hỏi quyết định trong cuộc cạnh tranh giữa Bắc Kinh và Washington có thể không phải là việc ai sẽ đạt được trước trong tổng quan về trí tuệ nhân tạo, mà là ai có thể tài trợ cho cuộc chạy đua này.
Trí tuệ nhân tạo mang tính đế quốc theo hai cách. Một mặt, Trung Quốc và Hoa Kỳ đã có những đặc điểm giống như đế chế trước khi cuộc đua về trí tuệ nhân tạo bắt đầu: Washington là nước đang nắm thế chủ động, biết kết hợp vị thế quân sự toàn cầu với một hệ thống liên minh mà không đối thủ nào có thể sánh kịp. Hoa Kỳ cũng cung cấp tiền tệ cho phần lớn cho các việc thương mại và giao dịch quốc tế. Bắc Kinh, thường được mô tả là đối thủ, kết hợp sự thống trị trong chuỗi cung ứng và công nghiệp với hải quân lớn nhất thế giới và siết chặt cơ sở hạ tầng vật chất và kỹ thuật số của các quốc gia ở châu Phi, châu Á và Mỹ La tinh. Đối với cả hai, trí tuệ nhận tạo là cách để mở rộng quyền lực mà họ đã nắm giữ. Nhưng về bản chất, trí tuệ nhân tạo cũng là một thực thể đế quốc. Bất kỳ ai sản xuất và kiểm soát các mô hình nghiên cứu tiên phong sẽ có được đòn bẩy trong toàn cầu đối với việc đổi mới, sản xuất, khoa học, văn hóa và cuối cùng là tư duy tiên tiến. Cũng giống như chất bạc đã bảo trợ cho Tây Ban Nha thời Habsburg và dầu mỏ định hình „thế kỷ Mỹ,“ mặt hàng mới này không chỉ làm giàu cho các cường quốc mà nó thống trị mà còn cung cấp hệ thống điều hành cơ bản mà mọi người khác phải tuỳ thuộc.
Điều phân biệt các đế chế trí tuệ nhân tạo với các đế chế trườc đây không phải là tham vọng mà là tốc độ. Vòng cung đế quốc quen thuộc – mở rộng, vươn tầm kiểm soát, căng thẳng, tan rã – từng diễn ra trong một thế kỷ hoặc thậm chí trong một thiên niên kỷ. Ngày nay, tiến trình đó đang diễn ra với tốc độ máy móc. Câu hỏi đặt ra là liệu các bá quyền mới có thể chuyển đổi các tài sản đặc thù của họ – Hoa Kỳ với thị trường vốn, phòng thí nghiệm tiên phong, các bóng bán dẫn và Trung Quốc với sự chỉ đạo nhà nước, năng lượng rẻ và công suất điện năng – thành các mệnh lệnh đế quốc bền vững hay họ sẽ bị mắc kẹt khi cố gắng.
Chiếm ưu thế do tình trạng khan hiếm
Một đế chế không chỉ là một đại cường mà còn hơn thế. Nó là một khuôn khổ định chế nhà nước mà là quyền lực và ảnh hưởng của nó lan rộng trên các vùng lãnh thổ rộng lớn và các dân tộc mà không có biểu đạt sự đồng thuận của họ. Trong suốt lịch sử, các đế chế khác biệt nhau ở hầu hết mọi khía cạnh: về các hình thức chính phủ nội địa, về các loại tài nguyên mà họ muốn kiểm soát, về cách mà họ duy trì quyền lực. Họ có thể là chế độ chuyên chế hoặc cộng hòa; họ có thể dựa vào binh lính, người định cư, giới công bộc và các doanh nghiệp được cấp phép hoạt động. Tuy nhiên, đường hướng cơ bản về quyền lực không bao giờ thay đổi. Trung tâm ra lệnh và vùng ngoại vi tuân lệnh. Trên thực tế, các đế chế bền vững nhất dựa vào sự hợp tác không chính thức với tầng lớp tinh hoa ở địa phương, trong khi các đế chế cưỡng chế tàn bạo thường chết yểu. Tất nhiên, bất kỳ hình thức quyền lực nhà nước nào cũng phải chỉ có độc quyền bạo lực mà còn phải có khả năng sử dụng nó. Điều làm đế chế khác biệt là khả năng kích động sự phục tùng qua các khoảng cách xa vời. Và chúng xuất hiện xuyên suốt lịch sử vì một lý do: bằng cách khai thác quy mô về kinh tế, các đế chế có thể đạt được sự thống trị và mang lại nền an ninh có hiệu quả hơn nếu so với các cấu trúc khác thay thế, dù là liên bang hay liên minh các quốc gia thành phố. Quốc gia dân tộc là một hình thức đến muộn, tương đối còn mới.
Các đế chế thường thể hiện quyền lực thông qua tinh thần lãnh đạo trong công nghệ. Trong thời cổ đại, các hệ thống dẫn nước của La Mã và các kênh đào cùng công trình kiểm soát lũ lụt của Trung Quốc là những con đường dẫn dắt của hàng thế kỷ thống trị. Các đế quốc châu Âu thời cận đại dẫn đầu thế giới về kỷ thuật in, công nghệ hàng hải và pháo binh. Đối thủ trong thời Chiến tranh Lạnh là các siêu cường về hạt nhân. Tuy nhiên, giờ đây, trí tuệ nhân tạo có thể mang lại cho Trung Quốc và Hoa Kỳ tầm ảnh hưởng đế quốc rộng lớn hơn bất kỳ công nghệ nào trước đó – và nhanh chóng hơn rất nhiều.
Một số đặc điểm cho thấy trí tuệ nhân tạo là công nghệ của đế quốc không chỉ đơn thuần là công nghệ về thương mại. Đầu tiên là sự trở lại của tình trạng khan hiếm mà nó tạo nên. Về bản chất, một đế chế là hệ thống kiểm soát các nguồn tài nguyên chiến lược hữu hạn: con người khỏe mạnh, đất ruộng khả canh, ngũ cốc, kim loại và khoáng sản. Từ những năm 1970 đến 2010, phần mềm thoát khỏi logic này vì nó có thể được sản xuất hàng loạt loại chip silicon dồi dào và với giá rẻ mạt. Trí tuệ nhân tạo đã phá vỡ khoảng thời gian đó. Theo các quy luật về quy mô của ngành công nghiệp, thành tựu của một mô hình tuỳ thuộc vào khuôn khổ số lượng mà nó chứa, khối lượng dữ liệu mà nó được huấn luyện và khả năng tính toán mà nó được sử dụng để huấn luyện. Do đó, tiến bộ phụ thuộc vào năng lượng, khoáng sản quan trọng, chip tiên tiến và vốn trên quy mô lớn. Ngay khi của một công nghệ trong lĩnh vực tiên phong phụ thuộc vào lượng lớn đầu vào khan hiếm, việc sản xuất nó trở thành vấn đề địa chính trị.
Bản chất của trí tuệ nhân tạo là một công nghệ của đế chế
Trí tuệ nhân tạo cũng có cấu trúc cố hữu về trung tâm-ngoại vi. Việc kiểm soát trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tiên phong và phần thưởng của nó tập trung vào một số ít doanh nghiệp ở Trung Quốc và Hoa Kỳ. Mọi người khác đều là người dùng phụ thuộc, dù là chính phủ hoạt động trong công vụ trên mô hình mà họ không thể kiểm tra hay một doanh nghiệp sản xuất sản phẩm trên giao diện có thể bị điều chỉnh lại giá hoặc rút khỏi chỉ trong một sớm một chiều. Đồng thời, đầu vào trí tuệ nhân tạo, cả về vật chất lẫn con người, được thu tóm một cách không cân xứng từ vùng ngoại vi. Khoáng sản từ Cộng hòa Dân chủ Congo và Indonesia cùng „lao động ma“ từ Kenya và Philippines, trả vài đô la mỗi giờ để dán nhãn và chọn lọc dữ liệu mà một mô hình ở Thung lũng Silicon học được – một loại hình kinh tế đồn điền của thời đại chatbot. Đầu vào thô được khai thác từ vùng ngoại vi, tinh chế và lắp ráp trong đô thị, rồi bán lại với giá cao.
Giống như nhiều đế chế, hệ thống trí tuệ nhân tạo được tổ chức quanh các điểm nghẽn. Không phải tất cả quyền lực đế quốc đều đến từ việc cạnh tranh hoàn toàn, và không phải tất cả những người bị cai trị đều là thần dân thời thuộc địa. Sự trỗi dậy của Đế quốc Anh vào thế kỷ XIX không chủ yếu là được thúc đẩy bởi việc nắm giử các vùng lãnh thổ rộng lớn, nhiều vùng mà trong số đó có giá trị kinh tế thấp, hoặc từ việc kiểm soát các nhà máy và sở hữu trí tuệ – nó vốn được bảo vệ qúa sơ sài đến mức gần như là một nguồn rộng mở. Thay vào đó, sự chế ngự của Anh đến từ việc thống trị các con đường bằng vật chất, công nghệ và tài chính mà nền kinh tế thế giới chảy qua: các trạm than, các thủy lộ chiến lược như kênh đào Suez và eo biển Malacca, các đường cáp điện báo dưới đáy biển, và tài chính bằng đồng bảng Anh thông qua thành phố London. Trật tự do Mỹ dẫn đầu sau năm 1945 có thể là một „đế chế mời gọi,“ như nhà sử học Geir Lundestad gọi tên như vậy, nhưng nó cũng dựa trên đồng đô la và các định chế Bretton Woods, một hệ thống ngân hàng quốc tế do Mỹ thống trị, mạng lưới căn cứ quân sự Mỹ toàn cầu và chiếc ô hạt nhân của Washington. Ngày nay, việc sản xuất và phân phối trí tuệ nhân tạo cung cấp một mạng lưới đế quốc dày đặc hơn, với các đô thị có thể bật hoặc tắt các yếu tố khác nhau – chip, khoáng sản, mô hình – theo như nhu cầu.
Có ít nhất một điểm khác biệt then chốt giữa hai đế chế về trí tuệ nhân tạo. Hành động của Trung Quốc là một hành động nhà nước có chủ ý, trong khi Hoa Kỳ thì không. Năm 2017, Quốc vụ viện Trung Quốc công bố một kế hoạch toàn diện nhằm đạt vị thế dẫn đầu toàn cầu về trí tuệ nhân tạo vào năm 2030 – cụ thể là kêu gọi Trung Quốc phát triển „các doanh nghiệp khung về trí tuệ nhân tạo đứng hàng đầu thế giới“ và đảm bảo phổ biến rộng rãi các ứng dụng tại hàng chục quốc gia mà họ đang nằm trong Sáng kiến Vành đai và Con đường của Bắc Kinh. Các bộ, tỉnh và ngân hàng nhà nước đã được huy động để thực hiện các mục tiêu này, và nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình tiếp tục tăng cường nỗ lực, bao gồm cả nỗ lực năm 2026 của ông để Bắc Kinh định hình các tiêu chuẩn về trí tuệ nhân tạo trong toàn cầu. Ngược lại, sự thống trị của trí tuệ nhân tạo Mỹ xuất phát từ vốn tư nhân, lập trường về quản lý là không can thiệp và biện pháp kiểm soát xuất khẩu nhằm ứng phó tạm thời. Theo ý nghĩa này, đế chế của Washington là một đế chế có truyền thống hơn trong hai đế chế: các đế chế trước đây hiếm khi là những dự án có ý thức hoàn toàn; Vương quốc Anh „dường như đã chinh phục và chiếm nửa thế giới trong cơn mất trí,“ như nhà sử học John Robert Seeley đã nói. Tuy nhiên, cả hai cường quốc trí tuệ nhân tạo đều gặp nhau trong cùng một kiến trúc, được quy định bởi các quy luật quy mô. Dưới một ngưỡng nhất định về năng lượng, vốn và tính toán, một quốc gia không phải là người dự cuộc yếu hơn; nó hoàn toàn không có mặt trong trò chơi.
Cuộc chiến giữa tiêu thụ điện năng (Watts) và bóng bán dẫn (Transistors)
Các đại doanh nghiệp của nhà nước trong thời kỳ đế quốc châu Âu – the Dutch and British East India Companies – tự đúc tiền của họ, triển khai quân đội tư nhân, đánh thuế và thương lượng với các vị vua như những người bình đẳng. Họ thúc đẩy sự thống trị của đế quốc bằng cách tạo ra các độc quyền thương mại, bảo vệ quyền này bằng sức mạnh quân sự và khai thác vùng ngoại vi một cách tàn nhẫn. Các đối thủ ngày nay là các doanh nghiệp khai thác tiên phong trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo như OpenAI và Anthropic, những doanh nghiệp này kiểm soát nguồn nhân lực, dữ liệu, mô hình và tài chính mà trí tuệ tiên tiến chịu phụ thuộc. Họ không chỉ là những người tổng hợp vốn mà còn là trọng tài tri thức, ngày càng quyết định những gì được phát minh, nhanh đến mức nào và nhằm mục đích gì.
Sự tương đồng này còn mở rộng đến nghệ thuật lãnh đạo chính trị. Giống như các doanh nghiệp Đông Ấn trước đây, giới lãnh đạo của các phòng thí nghiệm trí tuệ nhân tạo lớn nhất đàm phán với tổng thống và bộ trưởng trong nội các. Họ cũng thương lượng với các chính phủ không có mô hình nghiên cứu tiên phong, trao đổi quyền truy cập mô hình, phân bổ tính toán và đầu tư vào trung tâm dữ liệu cho đất đai, điện, vốn chủ quyền và điều chỉnh quy định. Đây là các thỏa thuận được ký kết giữa một doanh nghiệp và một nhà nước, hoặc giữa doanh nghiệp và các thực thể kinh tế trong quốc gia đó, dựa trên các điều kiện mà doanh nghiệp phần lớn đã đặt ra. Nhìn dưới góc độ này, các thỏa thuận được ký kết trong chuyến công du của Tổng thống Mỹ Donald Trump tại Saudi Arabia và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất vào tháng 5 năm 2025, khi các doanh nghiệp về trí tuệ nhân tạo và chip Mỹ cung cấp quyền truy cập về nền công nghệ tiên tiến nhất của họ đổi lấy đồng tiền petrodollar và năng lượng với giá rẻ, thực chất là những nhượng bộ của đế quốc về mặt hình thức. Việc thực thi này cũng không chỉ giới hạn ở phía Mỹ. Ngay cả khi Trung Quốc cạnh tranh với Hoa Kỳ để giành vị thế thống trị trí tuệ nhân tạo, Reuters đã đưa tin rằng Moonshot trí tuệ nhân tạo của Trung Quốc đang đàm phán với Amazon, Microsoft và Alphabet để chia sẻ phần doanh thu mà mà họ thu được từ việc lưu trữ mẫu Kimi K3 của họ.
Dù các doanh nghiệp này có vẻ là có chủ quyền tối thượng, họ không thể di chuyển một con chip hay xây dựng trung tâm dữ liệu nếu không có sự cho phép của nhà nước, và họ hoạt động dưới chế độ kiểm soát xuất khẩu có thể bóp nghẹt bất kỳ ai trong số họ theo ý muốn. Giống như các công ty Đông Ấn và các ngân hàng Rothschild, cuối cùng họ bị phụ thuộc vào chính phủ của đô thị, các phòng thí nghiệm tiên phong đã được trao quyền tự do đặc biệt để đổi lấy việc nâng cao vị thế của đô thị. Cho đến nay, tại Hoa Kỳ, chính quyền Trump vẫn từ bỏ việc điều chỉnh nghiêm túc các mô hình, vượt qua luật về trí tuệ nhân tạo của tiểu bang, và đơn giản hóa việc cấp phép cho các trung tâm dữ liệu. Nhưng chính quyền lại mong đợi quyền truy cập đặc quyền cho các cơ quan quốc phòng và tình báo, yêu cầu tuân thủ nghiêm ngặt việc kiểm soát xuất khẩu, và khẳng định quyền cấp hoặc từ chối nền công nghệ Mỹ cho các quốc gia khác như một công cụ trong chính sách đối ngoại. Ở Trung Quốc, nhà nước cung cấp những gì mà thị trường không cung cấp: đất đai, điện, cơ sở sản xuất được trợ cấp, mua sắm cấp tỉnh, và ngày càng nhiều là vốn. Đổi lại, các mô hình phải chịu thông qua việc đánh giá về mặt an ninh và tư tưởng của Cục Quản lý Không gian mạng Trung Quốc, đồng thời được thúc đẩy sử dụng chip nội địa. Mỗi quốc gia đã chọn một dây đeo trang sức khác nhau sao cho phù hợp các nhà vô địch quốc gia của mình.
Các đế chế cung cấp các tiện ích công cộng – trật tự, tiêu chuẩn, an ninh, đồng tiền dự trữ, quyền truy cập công nghệ – đổi lại không chỉ là doanh thu mà còn là sự đồng thuận hoặc phục tùng. Với các đồng minh và đối tác, Washington cung cấp toàn bộ hệ thống trí tuệ nhân tạo: chip tiên tiến, mô hình tiên phong đắt đỏ, công cụ và mối quan hệ an ninh phù hợp kèm theo. Để đổi lại, họ mong đội là các quốc gia đó tuân thủ các biện pháp kiểm soát xuất khẩu của Mỹ, các hạn chế về phần cứng và dữ liệu của Trung Quốc, và trong một số trường hợp, thuế quan hoặc cấm hoàn toàn công nghệ Trung Quốc. Bắc Kinh thì tinh tế hơn: các mô hình có trọng số mở rộng có thể được tải xuống và chỉnh sửa tự do; áp dụng chúng cùng với phần cứng, đám mây và kỹ sư của Trung Quốc, họ thông báo cho các quốc gia khách hàng, và các tiêu chuẩn sẽ tuân theo. Đối với cả hai đô thị, đây là chiến lược đế quốc thuần túy nhất, không chỉ là cuộc tranh giành thị phần.
Các chính phủ trên toàn thế giới phải chọn phe – chip của ai, đám mây nào, phe nào – một lựa chọn phân theo hai phe ngày càng khiến nhiều người cảm thấy khó chịu. Những gì Trung Quốc cung cấp thì rẻ và phần lớn là mở rộng; những gì Hoa Kỳ cung cấp thì đắt đỏ và phần lớn là khép kín. Một đế chế được xây dựng từ các linh kiện giá rẻ và không có rào cản tiếp cận sẽ có khả năng nhận được sự trung thành từ phần lớn các nền kinh tế thế giới. Một đế chế công nghệ cao cấp, hạn chế chỉ thu hút những người có khả năng chi trả và được phép tiếp cận. Bắc Kinh đã xây dựng dựa trên thành công của phần cứng 5G giá rẻ, xe điện và các sản phẩm khác, nhờ đó mà họ nhanh chóng chiếm ưu thế ở nhiều nơi trên thế giới. Washington đã dựa vào cách tiếp cận quen thuộc của Thung lũng Silicon – các doanh nghiệp tư nhân cạnh tranh, với những người chiến thắng dành độc quyền quanh công nghệ của mình – nhưng sau đó tái định hướng theo các mục tiêu quốc gia. Trong khi phiên bản thương mại của chiến lược này kết thúc bằng sự lan tỏa toàn diện với cái giá của một nhà độc quyền, thì phiên bản đế quốc kết thúc ở việc trung tâm quyết định ai được gì. Vào tháng Sáu, Bộ Thương mại Hoa Kỳ đã yêu cầu Anthropic đình chỉ quyền truy cập của tất cả công dân nước ngoài đối với hai mô hình có năng lực nhất của họ, và những mô hình đó đã bị tắt trên toàn thế giới chỉ trong vài ngày. Trong mỗi trường hợp, những gì bắt đầu là văn hóa kinh doanh đặc trưng của hai siêu cường trí tuệ giờ đây đã được tích hợp vào chính sách đối ngoại của họ.
Tuy nhiên, một đế chế bền vững không thể chỉ dựa vào các tiện ích mà nó cung cấp cho vùng ngoại vi. Nó cũng cần một câu chuyện kể để chuyển đổi tình trạng độc quyền thành quyền lực chính thống. Nền Hoà bình La Mã, các sứ mệnh của Kitô giáo và Hồi giáo, Sứ mệnh khai hoá văn minh, Sứ mệnh hiển nhiên, gánh nặng của người da trắng, cuộc trường chinh toàn cầu của chủ nghĩa cộng sản, thành phố rực rỡ trên đồi – mọi chế độ đế quốc thành công đều nhân danh sự thống trị của mình với lý do là để phục vụ cho nhân loại. Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Washington tự khẳng định mình là người bảo vệ thế giới tự do để chống lại sự thống trị độc tôn; Moscow tự mô tả mình là người hỗ trợ cho sự giải phóng dân tộc chống lại chủ nghĩa thực dân phương Tây. Cả hai tuyên bố đều đủ đúng để hữu ích và đủ sai để trở thành đế quốc.
Trong trường hợp của trí tuệ nhân tạo, các chính quyền Biden và Trump đã kết hợp việc theo đuổi sự thống trị công nghệ với tuyên bố nhằm bảo vệ các quyền tự do dân sự của Mỹ, bảo vệ tự do ngôn luận và chống lại các chế độ độc tài đối nghịch, đặc biệt là Trung Quốc. Dưới ngọn cờ của nền hoà bình dựa trên việc sản xuất silicon (Pax Silica) của Bộ Ngoại giao, Washington trình bày bộ mô hình về nghiên cứu tiên phong trong công nghệ do Mỹ dẫn đầu như một „hệ sinh thái đáng tin cậy,“ cần thiết để bảo vệ các nền dân chủ tự do và thị trường rộng mở khỏi các „sự phụ thuộc cưỡng bức“ xuất phát từ hệ thống do nhà nước Bắc Kinh kiểm soát. Bắc Kinh trả lời bằng kể một câu chuyện đối nghịch, đặt các mô hình tự do, rộng mở về trọng lượng của mình như một tiện ích công cộng trong toàn cầu, trái ngược với các mô hình độc quyền của các phòng thí nghiệm chạy theo lợi nhuận ở Hoa Kỳ, và cảnh báo rằng việc tiếp cận không bình đẳng với công nghệ sẽ làm trì trệ những gì Tập gọi là „bất công mới trong lịch sử.“ Câu chuyện kể đằng sau chiến lược đế quốc của Trung Quốc cũng là câu chuyện kể về chống đế quốc, tương tự như các ý thức hệ của hai đế chế trong thời Chiến tranh Lạnh.
Trong cuộc cạnh tranh giữa các đô thị trí tuệ nhân tạo, mỗi bên có lợi thế so sánh tương đối khác nhau. Hoa Kỳ có lợi thế sít sao – có thể trước hơn sáu tháng – trong các lĩnh vực như chatbot tiên tiến và công cụ phần mềm trí tuệ nhân tạo, trong khi Trung Quốc có lợi thế về các lĩnh vực đã thể hiện, bao gồm robot, hệ thống tự động và tự động hóa sản xuất. Hệ thống của Mỹ xuất sắc trong việc huy động tài chính tư nhân và nhân tài trong toàn cầu để đặt cược có lợi nhuận cao, với nghiên cứu trí tuệ nhân tạo chủ yếu được tài trợ bởi vốn Mỹ và xây dựng bên trong các phòng thí nghiệm tiên phong của Mỹ, trong khi sự sáng tạo của con người được huy động từ khắp nơi trên thế giới. Hệ thống của Trung Quốc xuất sắc trong việc triển khai trợ cấp cả phía cầu và cung để sản xuất theo quy mô công nghiệp trong bất kỳ lĩnh vực nào Bắc Kinh hướng tới. Bắt đầu từ lời kêu gọi „cách mạng robot“ của Tập vào năm 2014 và tiếp tục qua làn sóng đầu tư hiện nay vào sản xuất và robot dựa trên trí tuệ nhân tạo ở cả cấp trung ương và tỉnh, Bắc Kinh đã trợ cấp cho các cuộc đua cạnh tranh khốc liệt giữa các thành phần tham gia trong địa phương đồng thời làm giảm sự phụ thuộc của đất nước vào các công nghệ nước ngoài, như các linh kiện robot công nghiệp của Nhật Bản và Đài Loan.
Hình thức trí tuệ nhân tạo nào – dù là từ trong nhận thức hay đã thể hiện – nó sẽ trở thành nguồn lực đế quốc lớn hơn vẫn là chuyện chưa sáng tỏ. Trí tuệ về nhận thức có thể giúp cho Washington mở khóa về các tiên phong của phát minh khoa học, từ khoa học vật liệu đến dược phẩm. Trí tuệ đã thể hiện có thể làm tăng vị thế thống trị sản xuất của Trung Quốc, mở rộng sang các ngành công nghiệp có mức lợi biên tế thấp, và trao cho Bắc Kinh vị trí thống trị trong các hệ thống tự động. Nhưng những lợi thế này rất nhỏ, và hai đế chế không chênh lệch quá nhiều về năng lực của riêng mình.
Trong những điểm nghẽn đe dọa cho sự thống trị của họ, hai siêu cường này là hình ảnh phản chiếu. Trung Quốc có điện năng dồi dào và độc quyền gần như toàn cầu về các tài nguyên đất hiếm mà hệ thống trí tuệ nhân tạo dựa vào, nhưng lại không thể sản xuất các chip tiên tiến. Hoa Kỳ sở hữu các chất bán dẫn và mô hình tiên phong tốt nhất thế giới, nhưng lại thiếu khoáng sản, và mạng lưới điện cũ kỹ không thể đáp ứng nhu cầu vô tận rộng lớn của mạng lưới trung tâm dữ liệu mới. Một đế chế thiếu điện năng tiêu thụ; đế chế kia thiếu bóng bán dẫn. Vốn là nguồn tài nguyên có khả năng gắn kết cả hai và quyết định tuổi thọ của họ. Một đế chế chỉ bền vững bằng khả năng tự chi trả.
Gánh nặng về đầu tư dân sự
Cuối cùng, mỗi đế chế đều đạt đến giới hạn của tình trạng tăng trưởng, và mức trần đó thường là nguồn cung tài nguyên chính yếu mà nó được xây dựng. Đối với các đế chế trí tuệ nhân tạo, nguồn lực đó là vốn, nền tảng mà các đầu vào về vật chất cuối cùng dựa vào. Hoa Kỳ và Trung Quốc cạnh tranh cho cùng một phần thưởng, nhưng theo những cách khác nhau: Hoa Kỳ cạnh tranh thông qua các doanh nghiệp tuân theo quy luật thị trường vốn; Trung Quốc thông qua các doanh nghiệp chịu kỷ luật do nhà nước. Dù vậy, các phòng thí nghiệm tiên phong hàng đầu của Trung Quốc ít nhất cũng có tinh thần doanh nghiệp ngang như các đối tác Mỹ, và Bắc Kinh đã cho phép họ cạnh tranh với nhau. Ở cả hai nước, những người xây dựng các mô hình ngôn ngữ lớn tiên tiến nhất cần vốn – và rất nhiều.
Cũng giống như đồng bảng Anh và Thành phố London tài trợ cho Đế quốc Anh, đồng đô la và Phố Wall bảo trợ cho trật tự của trí tuệ nhân tạo của Mỹ. Bằng cách sở hữu đồng tiền dự trữ đang chiếm ưu thế, Washington có thể tài trợ cho việc xây dựng trung tâm dữ liệu không phải bằng tiền tiết kiệm của mình mà bằng tiền của nhiều người khác. Ngược lại, Trung Quốc phải tài trợ từ nguồn lực nội tại, thông qua hệ thống ngân hàng do nhà nước chỉ đạo và một đồng tiền cô lập với vốn toàn cầu. Tại Hoa Kỳ, nợ trong trí tuệ nhân tạo chủ yếu là do khu vực tư nhân nắm giữ. Các doanh nghiệp công nghệ lớn nhất đã cam kết hơn 600 tỷ đô la kinh phí vốn trong năm 2026, phần lớn trong số này lấy ra từ các thị trường tín dụng công và tư. Ở Trung Quốc, nợ cho trí tuệ nhân tạo là do quốc gia. Theo một kế hoạch dự thảo được Bloomberg đưa tin vào tháng Sáu, Bắc Kinh dự định chi 295 tỷ đô la trong vòng năm năm – chủ yếu được tài trợ qua tr1i phiếu chính phủ dài hạn – cho một mạng lưới trung tâm dữ liệu toàn quốc do các mạng nhà nước vận hành và sử dụng chip trong nước. Mặc dù các phòng thí nghiệm như DeepSeek và Moonshot trí tuệ nhân tạo là tư nhân, nhà nước giám sát chúng ở mọi giai đoạn và ngày càng tài trợ cho chúng nhiều hơn.
Bất chấp những khác biệt này, cả Trung Quốc và Hoa Kỳ đều đã tích tụ các núi nợ vì những lý do khác. Các chế độ đế quốc trước đây vay mượn nặng nề để tài trợ cho các cuộc chiến. Các đế chế trí tuệ nhân tạo ngày nay gánh vác gánh nặng tương tự, nhưng đó là kết quả của các khoản chi tiêu phi quân sự. Ở Hoa Kỳ, khiêm hụt ngân sách liên bang 2 nghìn tỷ đô la phản ánh một tình trạng bất mãn chung của chính giới trong nước qua việc áp đặt thuế và kiềm chế ngân sách cần thiết để trang trải kinh phí ngày càng tăng về An sinh Xã hội và Bảo hiểm sừc khoẻ. Ở Trung Quốc, hàng nghìn tỷ đô la nợ ngoài sổ sách nợ kế toán đã tích tụ ở cấp địa phương thay vì cấp quốc gia, khi chính quyền địa phương vay công quỷ để đầu tư vào bất động sản nhà ở và cơ sở hạ tầng. Ở cả hai nước, tỷ lệ sinh giảm và tuổi thọ kéo dài ngày càng làm xấu đi bức tranh ngân sách.
Một đế chế chỉ bền vững khi có khả năng tự chi trả
Bất kỳ đế chế nào chi xuất nhiều hơn cho việc trả nợ thay vì để tự vệ đều có nguy cơ mất đi địa vị đế quốc. Lịch sử của Tây Ban Nha thời Habsburg, chế độc của Pháp, Đế quốc Ottoman, Áo-Hung và Vương quốc Anh, tất cả đều minh họa cho nhận thức của nhà lý luận chính trị thế kỷ XVIII Adam Ferguson rằng nợ cao cuối cùng sẽ dẫn đến tình trạng suy tàn. Trong mỗi trường hợp, khi tỷ lệ khoản thu nhập từ thuế ngày càng gia tăng bị sử dụng cho các khoản thanh toán về lãi suất, nguồn lực khả dụng cho công việc phòng thủ đế quốc bị hạn chế rồi giảm đi. Đôi khi, có một mô hình vỡ nợ hoặc giảm giá tiền tệ lặp đi lặp lại, nhưng nó luôn kết thúc bằng sự co cụm và cuối cùng là sự tan rã của đế chế. Hoa Kỳ đã vượt qua cái mà một người trong chúng ta gọi là „giới hạn Ferguson“ vào năm 2024, trả nhiều lãi suất hơn (khoảng 881 tỷ đô la) so với quốc phòng (khoảng 874 tỷ đô la). Nếu chính phủ tiếp tục xu hướng chi tiêu hiện tại, các khoản thanh toán cho lãi suất sẽ tăng gấp đôi cho ngân sách quốc phòng vào năm 2036. Trung Quốc có thể đang đối mặt với một vấn đề tương tự. Mặc dù nhiều con số không được công khai, nhà kinh tế học Lý Đạo Cổ của Đại học Thanh Hoa đã chỉ ra rằng nhiều chính quyền địa phương – vốn chi tiêu hoang phí cho cơ sở hạ tầng trước đây là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng Trung Quốc – hiện đang vay mượn chỉ để giải quyết nợ cũ. Mặc dù lợi ích năng suất từ trí tuệ nhân tạo mang lại một lối thoát còn tiềm tàng để ra khỏi các bẩy ngân sách này, nhưng chúng có thể không xuất hiện đủ nhanh để chuyển hóa thành khoản thu thuế cao hơn trước khi gánh nặng về nợ trở nên không kham nổi. Trong trường hợp của Mỹ, yêu cầu về kinh phí cấp vốn cho trí tuệ nhân tạo đã đẩy lãi suất lên cao, làm trầm trọng thêm vấn đề nợ.
Mối quan hệ giữa các khủng hoảng tài chính và chiến lược đế quốc đã khiến cho các học giả Marxist quan tâm từ hơn một thế kỷ. Vấn đề đáng được tái xét lại ngay lúc này. Đối với cả hai đế chế trí tuệ nhận tạo, công nghệ mới được quảng bá như một lá bài miễn phí làm thoát cảnh tù tội – một liều thuốc giải độc cho tình trạng nợ ngày càng tăng, suy giảm dân số và sự trì trệ kinh tế. Tại Hoa Kỳ, bất kỳ sự chuyển hướng rộng rãi nào trong tâm lý nhà đầu tư chống lại các doanh nghiệp tiên phong và việc xây dựng trung tâm dữ liệu hỗ trợ mà nó hỗ trợ cho họ, sẽ gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Không khó để tưởng tượng một đợt bán đổ bán tháo ào ạt trên thị trường chứng khoán sẽ dẫn đến tình trạng suy thoái; hiệu ứng của tài sản làm tăng vốn khả dụng khi làm nó tăng lên sẽ làm cho nó đi xuống. Hệ quả về ngân sách sẽ là làm gia tăng khiếm hụt vốn đã to, để lại rất ít cho điều kiện cho kinh phí phản chu kỳ mà chính phủ liên bang dùng để kiểm soát hậu quả từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 -9 và đại dịch COVID-19. Ở Trung Quốc, một cuộc khủng hoảng về trí tuệ nhân tạo có thể bùng phát bởi tình trạng dư thừa năng lực và cái mà các nhà bình luận Trung Quốc gọi là nội quyền – sự cạnh tranh dai dẳng, vô ích vì phá hủy mức lợi nhuận biên tế sau đó. Kết quả sẽ là tình trạng thất nghiệp cao độ hơn, đặc biệt là ở giới trẻ, những người đã trải qua tỷ lệ thất nghiệp cao (mặc dù không thể biết chính xác cao đến mức nào, vì số liệu chính thức không còn được công bố). Trong cả hai trường hợp, một cuộc khủng hoảng như vậy sẽ đặt ra tình thế tiến thoái nan đế quốc muôn thuở: lo cho bơ sữa hay súng đạn? vì phúc lợi hay binh pháp chiến trường?
Lịch sử tràn ngập với các chuyện về đế chế đã trở thành nạn nhân của các nền công nghệ tiên phong của chính họ. Cơ sở hạ tầng đường bộ và kênh dẫn nước vô song của La Mã đã chứng minh là hoàn hảo để lan truyền các đại dịch. Mạng lưới cảng và tàu hơi nước trong toàn cầu của Vương quốc Anh, được xây dựng để xuất khẩu hàng hóa của đế quốc, cũng có thể dễ dàng chở các sản phẩm cao cấp của Mỹ hoặc Đức hoặc lao động rẻ hơn ở Caribe và Nam Á. Trí tuệ nhân tạo có thể theo mô hình này. Rủi ro đã có thể nhận ra ở các mô hình triển khai các tác nhân có khả năng né tránh rào chắn bảo vệ, thoát khỏi các rào cản lập trình cô lập để truy cập trái phép vào mạng, gian lận để đạt mục tiêu và che giấu các dấu vết về hành vi gian lận. Các tổ chức tội phạm và nhóm khủng bố có thể di chuyển nhanh hơn chính phủ chỉ bằng cách áp dụng trước tiên các công cụ. Đại dịch tiếp theo có thể được kích hoạt bởi một mầm bệnh do trí tuệ nhân tạo thiết kế. Hoặc chính Internet cũng có thể trở thành nạn nhân của phần mềm độc hại do các tác nhân thiết kế.
Cách mặt trời lặn
Lý thuyết hóa về các nguyên nhân đế quốc suy tàn là một việc đầy rủi ro. Về mặt lịch sử, các đế chế có quy mô và tuổi thọ rất khác nhau đến mức không có một mô hình nào là phù hợp với tất cả. Tuy nhiên, có một số tương lai hợp lý cho hai cường quốc về trí tuệ nhân tạo này. Trong một kịch bản, người thách thức vượt qua mặt người đương nắm quyền. Vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, Đức và Hoa Kỳ đã vượt qua Vương quốc Anh về mặt kinh tế, không chỉ bằng cách bắt chước mà còn bằng cách phát triển các đổi mới của họ. Vương quốc Anh phát minh ra thuốc nhuộm aniline, nhưng Đức đã thương mại hóa nó, đó chỉ là nó để lấy một ví dụ. Dựa trên Cách mạng Công nghiệp Anh, Đức du nhập các trường đại học kỹ thuật, hóa chất và kỹ thuật điện; Hoa Kỳ mang đến tỷ lệ biết chữ cho đại chúng, quy mô công nghiệp vô song và dây chuyền lắp ráp theo kiểu Ford. Hiện nay, Bắc Kinh đang đi theo sau với phương cách tương tự, đang đầu tư vào những thứ mà Washington hoặc thiếu hoặc không thể cung cấp với giá rẻ: năng lượng, sự thống trị trong sản xuất, robot, và các mô hình mở trọng số có thể hoạt động ở hoặc rất gần với các lĩnh vực tiên phong. Hiện tại, Hoa Kỳ buộc phải chi tiêu hậu hĩ để bảo vệ vị trí dẫn đầu trong một lĩnh vực mà Trung Quốc đang thương mại hóa. Nhưng có thể đó chưa phải là kết thúc của câu chuyện. Vương quốc Anh đã nhượng bộ khi Hoa Kỳ qua mặt. Họ cũng đã tham gia hai cuộc thế chiến để ngăn chặn sự trỗi dậy của Đức. Cả hai kết quả đều không hấp dẫn đối với Washington ngày nay.
Một cách lựa chọn thứ hai là đế chế thống trị đang cạn kiệt các nguồn lực. Vương quốc Anh đã thắng hai cuộc thế chiến nhưng tự phá sản khi chiến thắng. Năm 1945, người dân Anh cũng kỳ vọng một phần lợi ích trong hòa bình – nhà nước phúc lợi – nhưng nó không thể giải quyết được với chi phí để duy trì một đế chế trong toàn cầu. Ngày nay, Hoa Kỳ đã kéo dài cam kết quân sự toàn cầu một cách tương đối trong bối cảnh mà chi phí xã hội trong nước tăng vọt. Số lượng lớn lao về đạn dược tinh xảo và đắt tiền của Mỹ đã được sử dụng cho các cuộc chiến, trong khi An sinh Xã hội, Bảo hiểm y tế và Trợ giúp y tế chiếm hơn 60% số thu liên bang. Giữa những thách thức này, các trung tâm dữ liệu và năng lực phát điện đòi hỏi về vốn và sự ủng hộ chính trị kiên định. Cuối cùng, những áp lực mâu thuẫn có thể làm suy yếu nỗ lực mà Hoa Kỳ sẽ cần đến để cung cấp cho nền kinh tế trí tuệ nhân tạo trong các đầu tư tài chính và năng lượng mà nó cần. Bài học kinh nghiệm của Anh là một cường quốc đế quốc có thể làm hai trong ba việc – bảo vệ sự thống trị, duy trì ưu thế công nghệ, hoặc cung cấp phúc lợi hậu hĩ cho vùng đô thị – nhưng họ không thể cùng làm cả ba. Chúng ta hãy gọi đó là ba tình trạng tấn thoái lưỡng nan của đế quốc.
Một khả năng thứ ba là đổi mới trong một đế chế trí tuệ nhân tạo sẽ đình trệ. Một đế chế có thể tồn tại trước sự lan tỏa của công nghệ duy trì miễn là nó tiếp tục tạo ra những đột phá tiếp theo. Nhưng khoản thu về tiền cho thuê là sẽ dễ dàng hơn nhiều khi so với phát minh ra những điều mới. Tình trạng suy giảm thường xảy ra khi việc trì trệ cố ý trùng hợp với sự trỗi dậy của một đối thủ cam kết đi tiên phong hơn. Một chìa khóa cho chiến thắng cuối cùng của Mỹ trong Chiến tranh Lạnh là trong khi Liên Xô có thể theo kịp công nghệ hạt nhân, họ không thể theo kịp về công nghệ thông tin. Ngay cả khi Moscow đánh cắp các chất bán dẫn, họ cũng không thể sao chép được của doanh nghiệp Texas Instruments; các máy móc cơ khí làm đảo ngược luôn việc tụt hậu một thế hệ, và nền kinh tế dân sự của Liên Xô không bao giờ đạt được những tăng trưởng năng suất kép như Thung lũng Silicon tạo ra. Một nỗi lo sợ lớn lao trong giới „lạc quan công nghệ“ Mỹ ngày nay là các quan chức liên bang e ngại rủi ro có thể làm kìm hãm sự đổi mới của Mỹ theo cách tương tự.
Cuối cùng, tất cả các đế chế đều đối mặt với nguy cơ nội loạn. Trong quá khứ, phương tiện chính của các chế ngự đế quốc châu Âu là sự ngần ngại ngày càng tăng của người dân trong đô thị trong việc chịu đựng gánh nặng tài chính và quân sự. Gánh nặng đó tiếp tục tăng lên một phần vì giới đấu tranh cho chủ nghĩa dân tộc ở vùng ngoại vi có khuynh hướng nổi dậy, đặc biệt khi các đế chế đối địch khuyến khích họ. Đối với các đế chế trí tuệ nhân tạo ngày nay, nguy cơ nằm gần hơn ở trong nước. Một số dự đoán về sự phá hủy quy mô trong việc làm ở các trung tâm đế quốc, mặc dù nhiều nhà kinh tế phản bác rằng lao động sẽ được tái phân bổ thay vì bị thay thế. Ở Hoa Kỳ, lo ngại về chi phí xã hội và môi trường của trí tuệ nhân tạo giúp cho việc giải thích về tình trạng phản ứng dữ dội đối với việc xây dựng trung tâm dữ liệu, bao gồm cả ở các tiểu bang do Đảng Cộng hòa lãnh đạo như Texas và Utah. Ở Trung Quốc, nơi các quan chức lâu nay lo sợ sự phẫn nộ của sinh viên đại học, Bộ Nhân lực và An sinh Xã hội đã kêu gọi các doanh nghiệp công nghệ tránh sa thải lao động do việc áp dụng trí tuệ nhân tạo. Nhưng Bắc Kinh còn có một lý do khác để lo ngại: khả năng thay đổi các mô hình mở rộng về trọng lượng có thể làm xói mòn hệ thống thông tin và kiểm soát xã hội mà họ đã hoàn thiện suốt nhiều thập kỷ. Nói cách khác, nhà nước độc đảng có thể đang xây dựng công cụ cho sự sụp đổ của chính mình. Chen Yixin, người đứng đầu Bộ An ninh Nhà nước Trung Quốc, đã làm rõ mức độ quan trọng vào tháng 9: ông viết: “ưu tiên hàng đầu của Trung Quốc là bảo vệ sự lãnh đạo toàn diện của đảng trước các kẻ thủ trong và giặc ngoài mà họ có thể sử dụng trí tuệ nhân tạo để làm suy yếu chế độ.“
Không giống như các công nghệ đế quốc trước đây, trí tuệ nhân tạo cũng có thể tạo ra một cuộc nổi dậy của riêng mình. Đã có những dấu hiệu – như cuộc tấn công vào Hugging Face vào tháng 7 do hàng trăm tác nhân trí tuệ nhân tạo tự trị từ mô hình OpenAI phát động – rằng các mô hình trí tuệ nhân tạo tiên tiến nhất đã trở nên mạnh mẽ đến mức mà các kỹ sư của chúng không thể kiểm soát được. Một đàn các tác nhân của trí tuệ nhân tạo hành động và tổ chức cùng nhau để leo thang một chiến dịch mạng hoặc xâm nhập vào cơ sở hạ tầng quan trọngquốc gia, nó có thể làm suy yếu nghiêm trọng quyền lực quốc gia mà họ đã xây dựng chúng. Các nhà lý thuyết như Nick Bostrom từ lâu đã cảnh báo rằng một mô hình tiên tiến có thể gây tổn hại to lớn nếu nhận ra lời nhắc của con người một cách quá nghiêm túc và theo đuổi mục tiêu quá tàn nhẫn. Những kết quả tồi tệ hơn có thể tưởng tượng được hơn là cung ứng dư thừa một số lượng về kẹp giấy cho văn phòng
Kiểm soát việc va chạm
Không phải tất cả các cuộc chạy đua vũ trang đế quốc đều kết thúc bằng chiến tranh, nhưng các đối thủ cạnh tranh dành ưu thế về công nghệ mới thường có xu hướng cao trong xung đột. Một lý do khiến các cuộc chiến tranh châu Âu diễn ra thường xuyên trong thế kỷ XVII và XVIII là cơ hội từ những tiến bộ liên tiếp trong lĩnh vực xây dựng công sự phòng thủ, pháo binh và đóng tàu. Hai nỗ lực giành quyền lực thế giới của Đức được thúc đẩy bởi niềm tin của các giới lãnh đạo quân sự rằng họ có lợi thế, đầu tiên là trên mặt đất, sau đó là trên không. Nguy hiểm ngày nay là trong cuộc đua giành quyền thống trị trí tuệ nhân tạo, Hoa Kỳ sẽ vấp ngã vào một cuộc chiến mà họ chỉ có thể thắng với cái giá không thể cam chịu nỗi.
Ngày nay, kịch bản chiến tranh giữa các đại cường và mối đe dọa lớn nhất đối với đế chế trí tuệ nhân tạo Mỹ đều là một và giống nhau. Nút chủ yếu trong toàn bộ hệ thống trí tuệ nhân tạo, nhà sản xuất bán dẫn Đài Loan TSMC, nằm cách bờ biển Trung Quốc 90 dặm. Tất cả những gì Bắc Kinh cần làm để làm giảm sự thống trị của các mô hình tiên phong của Mỹ và tiềm năng được quảng cáo rầm rộ của chúng khi vũ khí mạng chiếm được Đài Loan. Mối đe dọa lớn nhất trong ngắn hạn đối với trật tự thế giới có thể gọi là khủng hoảng về chip tại Đài Loan, trong đó Bắc Kinh huy động để kiểm soát hòn đảo và Hoa Kỳ phải lựa chọn giữa kháng cự vũ trang và nhượng bộ. Có thể, giống như cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba cách đây 64 năm, một hoặc cả hai bên sẽ nhượng bộ. Nhưng điều đó không được đảm bảo.
Dù bên nào thắng, thì cuộc chiến về Đài Loan sẽ là thảm họa. Mối lo ngại là cuộc chạy đua vũ trang về trí tuệ nhân tạo, cộng với áp lực về ngân sách ngày càng tăng lên cho cả hai cường quốc trí tuệ nhân tạo, nó khiến cho một cuộc xung đột như vậy ngày càng có khả năng xảy ra. Các cam kết quân sự ngày càng tăng của Washington ở Trung Đông và các nơi khác có thể khiến cho Trung Quốc bị cám dỗ phải hành động, vì họ đã làm giảm nguồn lực khả dụng của Mỹ dành cho cuộc chiến mà nó định hình cho kỷ nguyên này. Sự tiến bộ nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo càng làm tăng khả năng mà các mô hình này vô tình đẩy hai cường quốc vào cuộc chiến. Vào tháng 9 năm 1983, hệ thống tiên báo về hạt nhân của Liên Xô đã gửi đi một tin báo động rằng năm tên lửa đạn đạo liên lục địa của Mỹ đã được phóng vào Liên Xô. Trong trường hợp đó, Trung tá Stanislav Petrov, nhân viên túc trực, đã đánh giá đúng rằng hệ thống đã báo sai. Nhưng các hoạt động tự động ngày nay diễn ra trong vài giây. Có thể sẽ an tâm khi nghĩ rằng việc sử dụng hạt nhân vẫn cần sự cho phép của con người, nhưng điều đó không đúng với một số vũ khí quy ước tiên tiến nhất. Ví dụ, Hệ thống Vũ khí Phalanx và Hệ thống Chiến đấu Aegis của Hải quân Hoa Kỳ đều được thiết kế để phát hiện và bắn vào các mối đe dọa từ kẻ thù. Và như các chiến lược gia hạt nhân đã chỉ ra, ảo giác về trí tuệ nhân tạo có thể thuyết phục vị tổng thống tương lai phát động một cuộc phản công hạt nhân không cần thiết.
Nhà nước độc đảng của Trung Quốc có thể đang xây dựng cho sự sụp đổ của mình
Lịch sử đế quốc của Trung Quốc cho thấy có hai lối thoát khả thi. Bất kỳ đế chế nào mà sự tồn tại của họ phụ thuộc vào một tỉnh lẻ hoặc một căn cứ duy nhất nào thể hiện đều đang gặp rủi ro. Ví dụ, đến năm 1941, đế chế châu Á của Anh đã trở nên quá phụ thuộc nguy hiểm vào kênh đào Suez và Singapore, khiến cho nước này dễ bị tổn thương khi bị phe Trục tấn công. Đặc biệt, việc Nhật chiếm Mã Lai và Công ty Đông Ấn Hà Lan đã tạo ra tình trạng khan hiếm cao su thường xuyên cho nỗ lực chiến tranh của Đồng minh. Tương đương như vậy ngày nay là sự phụ thuộc của Mỹ vào các loại chip tiên tiến của Đài Loan. Điều này giải thích cho nỗ lực cuồng nhiệt của Mỹ trong việc xây dựng các cơ sở của TSMC ở Phoenix, Arizona; Kumamoto, Nhật Bản; và Dresden, Đức – một phần được tài trợ bằng công quỹ và được biện minh bằng lý do an ninh quốc gia. Chính tình trạng khan hiếm khiến cho Đài Loan đáng được để chiến đấu cũng thúc đẩy cuộc đua biến nó thành cần thiết. Nếu Washington thành công trong mục tiêu đó, độc quyền về sản xuất chất bán dẫn của hòn đảo sẽ bị xói mòn, và lý do của Trung Quốc cho hành động quân sự sẽ suy yếu. Nhưng cánh cửa sổ mà Đài Loan mở ra vẫn không thể thay thế, và do đó xứng đáng với một cuộc chiến, chính là cửa sổ mà thế giới đang ở trong đó. Liệu Trung Quốc và Hoa Kỳ có vô tình bước vào cuộc chiến trước khi cánh cửa sổ đó đóng lại hay không, sẽ là một trong những câu hỏi quyết định của những năm tới. Như với nhiều vấn đề khác trong cuộc cạnh tranh này, câu trả lời xoay quanh việc liệu các định chế nào có thể di chuyển theo tốc độ mà công nghệ đặt ra không.
Phương án thay thế cho các đế chế trí tuệ nhân tạo ngày nay là họ có cố gắng, như các bậc tiền nhiệm trong thời Chiến tranh Lạnh đã làm cách đây nửa thế kỷ, điều mà nhà lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev gọi là chung sống hòa bình và các chính khách Mỹ thích gọi là hòa dịu. Khi cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân ngày càng nguy hiểm và tốn kém hơn, Moscow và Washington đã đàm phán một loạt thỏa thuận – bao gồm Hiệp ước Không phổ biến Vũ khí Hạt nhân, nhằm duy trì gần như độc quyền bom của các siêu cường, cũng như các Hiệp ước Chống Tên lửa Đạn đạo và Hạn chế Vũ khí Chiến lược – và thiết lập các tiến trình để giải quyết khủng hoảng. Trung Quốc và Hoa Kỳ nên tìm kiếm các thỏa thuận tương tự để hạn chế cuộc chạy đua vũ trang về trí tuệ nhân tạo. Ví dụ, họ có thể đồng ý không đề ra các mô hình vượt quá một mức năng lực xác định trong các lĩnh vực như tấn công mạng hoặc thiết kế sinh học, và có thể đặt ngưỡng cho việc mở rộng trọng lượng. Giống như Công ước Vũ khí Sinh học năm 1975 – một thỏa thuận khác giúp duy trì cân bằng Chiến tranh Lạnh – những thỏa thuận như vậy sẽ rất khó kiểm soát. Nhưng bất kỳ thỏa thuận nào quy định việc sử dụng trí tuệ nhân tạo là cấm kỵ sẽ tốt hơn là một hiện trạng mà không có cấm đoán gì. Công ước như vậy có thể tạo nền tảng hợp lý cho một thỏa thuận giảm căng thẳng trí tuệ nhân tạo. Vần đề thách thức là làm sao thuyết phục cho Trung Quốc chấp nhận được giới hạn khi các mô hình trí tuệ nhân tạo của họ tụt hậu so với các mô hình tiên tiến nhất của Mỹ và khi họ đã thành thói quen tiến hành các cuộc tấn công mạng khi dựa trên trí tuệ nhân tạo.
Các đế chế cần nguồn lực và vốn khổng lồ để tồn tại. Họ bắt đầu bằng việc khai thác các quy mô kinh tế, chính trị và quân sự và kết thúc bằng việc kiệt sức để bảo vệ phạm vi của mình. Trí tuệ nhân tạo là dự án đế quốc sử dụng vốn lớn nhất trong lịch sử, được thực hiện bởi hai siêu cường vốn đã gánh nặng nợ nần. Bài học từ các đế chế trong quá khứ không phải va chạm hay suy tàn là điều không thể tránh khỏi. Đó là điều kiện cho cả hai – một cuộc chạy đua vũ trang về nguồn lực khan hiếm, tài trợ công chi quá tải, phản ứng dữ dội trong nước gia tăng và các tầng lớp tinh hoa lo thủ lợi vỉ thiển cận về chiến lược – vốn dĩ đang hiện hữu. Đế chế trí tuệ nhân tạo nào sẽ rèn luyện quyền lực thành một trật tự hợp pháp và bền vững, và đế chế nào sẽ lặp lại những sai lầm muôn thuở mà nó dẫn đến tình trạng suy tàn đang được quyết định. Điều hoàn toàn mới là tốc độ mà tiến trình này đang diễn ra: những câu hỏi này đang được giải quyết với tốc độ vượt quá khả năng kiểm soát của bất kỳ hệ thống chính trị nào. Sự chung sống hòa bình đã đủ khó khăn trong thời đại hạt nhân – và cuối cùng, một trong những siêu cường đã suy yếu và sụp đổ. Sẽ khó hơn nhiều để lặp lại kết quả vô hại này trong một thế giới mà ngày càng được điều hành bởi những cỗ máy mạnh mẽ và không ngừng tự cải thiện.
***
Niall Ferguson, Nghiên cứu viên cao cấp thuộc chương trình Milbank Family tại Viện Hoover, Đại học Stanford, đồng thời là tác giả cuốn: Empire: The Rise and Demise of the British World Order
Lisa Klaasen, Nghiên cứu sinh ban tiến sĩ tại Viện Internet Oxford và là Nghiên cứu viên tại Trung tâm Báo chí AI Tarbell.
Erich Schmidt, Chủ tịch Dự án Nghiên cứu Cạnh tranh Đặc biệt và từng là CEO kiêm Chủ tịch của Google. Cùng với Henry Kissinger và Craig Mundie, ông là tác giả của cuốn Genesis: Artificial Intelligence, Hope, and the Human Future.
**Sehr geehrter Herr Đỗ Kim Thêm,**
Ihr Beitrag über die KI\-Konkurrenz zwischen den USA und China berührt eine zentrale Frage unserer Zeit: Wird künstliche Intelligenz dem Gemeinwohl dienen oder neue Abhängigkeiten und Machtkonzentrationen schaffen?
Historisch betrachtet sind technologische Vorsprünge nicht automatisch dauerhafte politische Überlegenheit\. Entscheidend sind neben Rechenleistung, Halbleitern und Investitionen auch Bildung, wissenschaftliche Offenheit, Energieversorgung und internationale Zusammenarbeit\. Mathematisch gilt: Höhere Rechenleistung allein garantiert weder bessere Ergebnisse noch gesellschaftlichen Nutzen\.
Rechtlich und ethisch müssen Innovation und Sicherheit zusammen gedacht werden\. Die UNESCO\-Empfehlung zur KI\-Ethik von 2021 betont Menschenwürde, Nichtdiskriminierung, Transparenz und menschliche Verantwortung\. Der EU AI Act schafft dafür einen verbindlichen, risikobasierten Rechtsrahmen\. Weder Washington noch Peking sollten technologische Führungsansprüche über Grundrechte und globale Stabilität stellen\.
Auch aus humanistischer und religiöser Sicht bleibt der Mensch Zweck und nicht bloß Mittel wirtschaftlicher oder geopolitischer Macht\. **Der Maßstab für den Erfolg von KI sollte daher nicht allein sein, wer das Rennen gewinnt, sondern ob Sicherheit, Freiheit und Wohlstand möglichst vielen Menschen zugutekommen\.**
**Quellen:** Niall Ferguson, Lisa Klaassen und Eric Schmidt, „Empires of AI“, *Foreign Affairs*, 20\. Oktober 2026; UNESCO, *Recommendation on the Ethics of Artificial Intelligence* (2021); EU, *AI Act*\.
Mit freundlichen Grüßen
Hans Gamma
LikeLike