Michel de Montaigne
Đỗ Kim Thêm giới thiệu và dịch

Lời giới thiệu
Học triết là học cách chết là nhan đề bản dịch Que philosopher, c’est apprendre à mourir chương XX, Tập I của Essais (Các bài tiểu luận) – một trong những chương nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của Montaigne. Nhan đề này gợi lại một truyền thống tư tưởng có từ thời cổ đại, đặc biệt là quan niệm của Plato, Cicero, Seneca và các tác giả cổ điển khác về mối quan hệ giữa triết học và sự chuẩn bị cho cái chết.
Ở phần đầu, Montaigne tỏ ra chịu ảnh hưởng của truyền thống Khắc kỷ (Stoicism) khá rõ. Theo tinh thần này, con người cần rèn luyện tâm trí để không bị những biến cố bên ngoài, kể cả cái chết, chi phối. Suy tưởng về cái chết trở thành một phương thức rèn luyện sự bình thản và sức mạnh nội tâm.
Tuy nhiên, càng về cuối chương, lập luận của Montaigne càng chuyển sang một thái độ gần gũi với tinh thần Khoái lạc (Epicurus). Khi đưa tiếng nói của “Mẹ Tự nhiên” vào cuộc đối thoại, ông làm thay đổi trọng tâm của vấn đề, thay vì không ngừng chống lại cái chết bằng sự lo âu, con người nên học cách sống thuận theo tự nhiên và tận hưởng đời sống khi còn hiện hữu.
Montaigne cho thấy có sự đan xen giữa hai truyền thống triết học Khắc kỷ và Khoái lạc. Tuy nhiên, khi được Montaigne triển khai, hai tư tưởng này không còn chỉ là một lời khuyên đạo đức về việc chuẩn bị đối diện với cái chết, mà trở thành một suy tư rộng lớn hơn về tự do, hạnh phúc và nghệ thuật sống. Montaigne không đơn thuần lặp lại hai quan điểm của trường phái nào, mà đưa nhiều tiếng nói khác nhau vào trong cùng một cuộc đối thoại, rồi từ đó hình thành một cách suy tư mang dấu ấn riêng về triết học và nghệ thuật sống.
Cái chết và triết học
Theo Montaigne, học triết không chỉ là tiếp thu những tri thức trừu tượng, mà còn là một hình thức rèn luyện tâm trí, giúp con người học cách đối diện với điều tất yếu của kiếp nhân sinh. Một trong những mục đích quan trọng của triết học là giúp con người đạt tới sự bình thản và tự chủ trước những biến động không thể tránh khỏi của đời sống, cho dù nỗi lo sợ về cái chết là một trong những băn khoăn nghiêm trọng nhất làm chi phối mạnh mẽ đến đời sống con người.
Từ góc nhìn ấy, triết học trở thành một nghệ thuật thực hành, không chỉ nhằm trả lời câu hỏi “cái chết là gì?”, mà quan trọng hơn là giúp con người thay đổi thái độ của mình trước cái chết. Khi biết rằng cái chết là không ai tránh khỏi, nhưng con người có thể giảm bớt nỗi sợ hãi và ám ảnh về cái chết, vì nó làm tổn hại đến đời sống hiện tại.
Cái chết và nghệ thuật sống
Đối với Montaigne, cái chết không phải là một thế lực xa lạ bất ngờ từ bên ngoài xâm nhập vào đời sống, mà là một phần tự nhiên của chính sự sống. Sống và chết nằm trong cùng một trật tự của tự nhiên; bởi vậy, con người không thể thực sự sống tự do nếu luôn tìm cách trốn chạy khỏi ý thức về cái chết.
Vì thế, Montaigne khuyên con người nên tập làm quen với cái chết bằng cách thường xuyên suy ngẫm về nó. Đây là tinh thần gần với truyền thống memento mori – lời nhắc nhở về tính hữu hạn của đời người. Tuy nhiên, mục đích của việc suy tưởng về cái chết không phải để khiến con người chìm đắm trong bi quan hay ám ảnh; ngược lại, để cho cái chết mất dần mất đi quyền lực đối với tâm trí.
Một khi đã biết chấp nhận cái chết có thể đến bất cứ lúc nào, con người sẽ bớt lệ thuộc vào những nỗi sợ hãi, vì nó vốn làm cho mình mất tự do. Theo tinh thần ấy, Montaigne xem sự chuẩn bị trước cái chết cũng là một sự chuẩn bị cho tự do: người ta không còn bị nỗi sợ chết thống trị mà sẽ có khả năng sống chủ động hơn trước nghịch cảnh và những bất trắc của cuộc đời.
Montaigne nhấn mạnh rằng giá trị của đời người không thể chỉ được đo bằng tuổi thọ. Một đời sống lâu dài nhưng luôn bị chi phối bởi lo âu và sợ hãi chưa chắc là đã đáng quý hơn một cuộc đời ngắn ngủi nhưng được sống trọn vẹn, tận hương tự do và có phẩm giá. Điều quan trọng không phải là sống bao lâu, mà là cách sống như thế nào.
Từ đó, Montaigne suy ngẫm về cái chết thực chất trở thành cách suy ngẫm về sự sống. Khi ý thức được tính hữu hạn của thời gian, con người có thêm lý do để sống sâu sắc hơn trong hiện tại, thay vì liên tục trì hoãn hạnh phúc hoặc để nỗi lo sợ về tương lai làm lu mờ đời sống đang diễn ra.
Montaigne cũng nhìn cái chết trong mối quan hệ với quy luật vận động của tự nhiên. Sự ra đi của một thế hệ tạo nên một khoảng trống để cho các thế hệ khác có cơ hội tiếp tục tồn tại; sự sống của cá nhân vì thế nằm trong một dòng vận động rộng lớn hơn chính bản thân họ. Cái chết không chỉ là sự kết thúc của một cá thể, mà còn là một phần trong chu trình tiếp nối của các sự sống khác
Cuối cùng, Montaigne kêu gọi con người là không nên để bị cái chết làm ám ảnh thường xuyên vì cái chết không phải là một kinh nghiệm mà con người cần phải sợ hãi; ngược lại, nếu suy tưởng đúng cách về cái chết, nó sẽ giúp cho con người thoát khỏi nổi ám ảnh này để trở về với đời sống. Do đó, con người có thể thôi chống cự trong vô vọng và tập trung vào việc sống một cuộc đời có ý nghĩa trong khoảng thời gian mình thực sự có được.
Montaigne tiếp nhận tinh thần ấy và đề ra một quan niệm cân bằng hơn. Điều đáng quan tâm là nghệ thuật sống, cách mà con người sống khi còn sống. Chuẩn bị cho cái chết không phải là quay lưng với sự sống, mà là học cách sống tự do hơn nhờ hiểu rõ giới hạn của sự sống.
Vì vậy, nhìn chung, Học triết là học cách chết là học về một nghệ thuật sống thích hợp. Khi cái chết càng được nhìn nhận như một phần tự nhiên của đời người, thì con người càng có thể thoát mình ra khỏi nỗi sợ hãi vô ích và trở về với hiện tại. Theo Montaigne, triết học, vì thế, không phải là sự chuẩn bị để rời bỏ cuộc đời, mà là một cách học để sống tỉnh thức, tự do và trọn vẹn hơn trong chính cuộc đời hữu hạn này. Sau đây là toàn văn bản dịch:
***
Học triết là học về cách chết
Cicero nói rằng triết học chẳng qua là chuẩn bị cho cái chết. Có lẽ là bởi học hỏi và chiêm nghiệm phần nào rút linh hồn chúng ta ra khỏi chính mình, khiến nó bận tâm đến những gì tách khỏi thân xác; mà đó chính là một thứ tập dượt và mô phỏng cái chết. Hoặc cũng có thể bởi toàn bộ minh triết và mọi lý luận của thế gian, xét cho cùng, đều quy về điểm này: dạy chúng ta không sợ chết.
Thật vậy, hoặc lý trí đang chế nhạo chúng ta, hoặc nó chỉ nên nhắm đến sự mãn nguyện của chúng ta; và rốt cuộc, toàn bộ công việc của nó phải hướng đến việc làm cho chúng ta sống tốt đẹp và an nhàn, như Kinh Thánh đã dạy. Mọi quan điểm trên đời đều quy về một chỗ: khoái lạc là mục đích của chúng ta, cho dù mỗi quan điểm chọn những phương tiện khác nhau để đạt tới nó. Nếu không phải thế, người ta đã gạt bỏ chúng ngay từ đầu; bởi ai lại chịu lắng nghe kẻ lấy đau khổ và bất an của chúng ta làm cứu cánh? Những bất đồng giữa các trường phái triết học, xét về điểm này, chỉ là chuyện ngôn từ.
(“Transcurramus solertissimas nugas”. – Seneca, Epist. 117)
(“Hãy bỏ qua những trò nhỏ nhặt ấy.”)
Có quá nhiều lời đối nghịch và bắt bẻ lý lẽ trong một nghề nghiệp thiêng liêng đến như thế. Nhưng con người dù đảm nhận vai trò nào, rốt cuộc họ vẫn luôn đóng vai của chính mình trong đó.
Dẫu giới triết gia nói thế nào, ngay cả trong chuyện đức hạnh, thì mục đích sau cùng của điều chúng ta nhắm tới vẫn là khoái lạc. Tôi thích đập từ ấy cho lọt vào tai những người mà nó khiến cho họ nghe khó chịu đến thế. Và nếu từ ấy có nghĩa là một khoái lạc tối cao, một sự mãn nguyện tột bậc, thì nó lại càng thuộc về sự trợ giúp của đức hạnh hơn bất cứ sự trợ giúp nào khác.
Khoái lạc ấy, vì vui tươi, mạnh mẽ, cường kiện, nam tính hơn, nên càng đích thực là khoái lạc. Đáng lẽ chúng ta phải gọi nó bằng tên khoái lạc, một tên gọi thuận tai, dịu dàng và tự nhiên hơn, không phải là bằng cái tên sức mạnh mà chúng ta đã dùng để gọi nó. Còn thứ khoái lạc thấp kém khác, nếu quả thật nó xứng đáng với cái tên đẹp đẽ ấy, thì cũng chỉ nên được hưởng cái tên ấy trong sự cạnh tranh, không phải như là một đặc quyền.
Tôi thấy khoái lạc ít thoát khỏi được những bất tiện và nghịch cảnh hơn là đức hạnh. Ngoài việc hương vị của nó ngắn ngủi, thoáng qua và chóng tàn, nó còn có những đêm thức canh chừng, những ngày nhịn ăn, những nhọc nhằn, mồ hôi và máu; hơn nữa, nó còn có riêng cho mình biết bao thứ đam mê sắc bén và tổn thương đủ mọi hình thức, và bên cạnh đó là một sự chán chường nặng nề đến mức ngang với một hình phạt.
Chúng ta lầm to khi cho rằng những thứ bất tiện ấy tạo nên thúc đẩy và thêm gia vị cho sự ngọt ngào của khoái lạc, như trong tự nhiên, cái đối nghịch làm cho cái đối nghịch kia thêm sinh động; rồi khi nói đến đức hạnh, lại cho rằng những gian nan tương tự khiến cho nó nặng nề, khắc khổ và khó tiếp cận. Trái lại, ở đức hạnh, những gian nan ấy còn thích hợp hơn nhiều khi so với khoái lạc: chúng làm cho niềm vui thiêng liêng và hoàn hảo mà đức hạnh đem lại cho nó trở nên cao quý hơn, sắc bén hơn và nâng cao hơn.
Quả thật, kẻ nào đem cái giá phải trả cho đức hạnh ra cân đong với thành quả của nó thì không xứng đáng làm bạn với đức hạnh, bởi hắn không biết những ân huệ cũng như công dụng của nó.
Những người dạy chúng ta rằng việc tìm kiếm đức hạnh thì gập ghềnh và nhọc nhằn, còn hưởng thụ nó thì dễ chịu, rốt cuộc họ nói với chúng ta điều gì, nếu không phải rằng đức hạnh lúc nào cũng khó chịu? Bởi kẻ phàm tục nào đã từng đạt tới sự hưởng thụ nó? Những người thanh cao hoàn hảo nhất cũng chỉ bằng lòng với việc hướng tới và tiếp cận nó và chưa chiếm hữu được nó.
Nhưng họ đã lầm. Bởi trong tất cả những khoái lạc mà chúng ta biết, chính sự theo đuổi cũng đã là khoái lạc. Hành động mang lại phẩm chất của điều mà nó nhắm tới là một phần lớn của kết quả và cùng một bản chất với kết quả ấy. Niềm hạnh phúc và điềm lành tỏa sáng trong đức hạnh lấp đầy tất cả những gì thuộc về nó và mọi lối dẫn đến nó, cho đến tận cửa vào đầu tiên và rào chắn cuối cùng.
Một trong những lợi ích chính của đức hạnh là sự khinh thường cái chết; nhờ đó, nó đem lại cho đời sống chúng ta một sự thanh thản êm dịu, cho chúng ta nếm được cuộc sống trong sự tinh khiết và đáng yêu; nếu thiếu điều ấy, mọi khoái lạc khác đều tắt lịm.
Đó là lý do vì sao mọi quy tắc đều gặp nhau và đồng thuận ở điểm này. Quả thật, tất cả đều dẫn chúng ta đến một sự nhất trí chung là việc coi thường đau đớn, nghèo khó và những tai biến khác mà đời người phải chịu; nhưng không phải với cùng một mức độ quan tâm. Một phần bởi những tai biến ấy không phải là điều tất yếu như nhau: phần lớn con người sống cả đời mà không hề nếm được cảnh nghèo khó; lại có những người không hề biết đến đau đớn hay bệnh tật, như nhạc sĩ Xenophilus, ngưới đã sống một trăm lẻ sáu năm trong tình trạng sức khỏe liên tục hoàn hảo.
Lại nữa, trong trường hợp xấu nhất, cái chết có thể chấm dứt tất cả khi nó đến; nó có thể cắt đứt mọi phiền toái khác. Nhưng đối với cái chết, nó là điều không thể tránh khỏi.
(“Omnes eodem cogimur, omnium
Versatur urna, serius ocius
Sors exitura et nos in aeter-
num exitium impositura cymbae.” – Horace, Odes, II, 3, 25-28)
(“Tất cả chúng ta đều bị dồn về cùng một nơi; chiếc bình định mệnh của tất cả đều được rung lắc; sớm hay muộn, lá thăm số phận sẽ được rút ra và đặt chúng ta lên con thuyền đưa tới cõi chết vĩnh hằng”.)
Vì thế, nếu cái chết khiến chúng ta sợ hãi, nó sẽ trở thành một nguồn dày vò liên tục, không cách nào làm xoa dịu. Không có nơi nào chúng ta có thể trốn khỏi cái chết; chúng ta có thể liên tục quay đầu hết bên này đến bên kia, như đang ở một miền đất khả nghi:
(“Quae quasi saxum Tantalo semper impendet.” – Cicero, de finibus I, C. 60)
“Nó luôn treo lơ lửng trên chúng ta như tảng đá trên đầu Tantalus”
Các nghị viện của chúng ta thường ra lệnh đưa những phạm nhân đến chính nơi mà chúng đã phạm tội để hành quyết. Trên đường đi, họ được đưa qua những ngôi nhà đẹp đẽ, thết đãi họ bao nhiêu món ngon tùy ý:
(“Non Siculæ dapes
Dulcem elaborabunt saporem,
Non avium cytharaeque cantus
Somnum reducent”- Horace, Oden, III 1, 18.)
(“Những yến tiệc Sicilia cũng không thể làm nên vị ngọt; tiếng chim và tiếng đàn cithara cũng không mang lại giấc ngủ.”)
Bạn nghĩ là họ còn có thể nào vui hưởng được những thứ ấy sao? Khi mục đích cuối cùng của chuyến đi luôn hiện ra trước mắt họ, chẳng phải nó đã làm biến đổi và làm hỏng vị giác của họ đối với tất cả những tiện nghi ấy hay sao?
(“Audit iter, numeratque dies, spatioque viarum
Metitur vitam, torquetur peste futura”- Claudianus, In Rufinum II, 137-138).
(“Hắn nghe ngóng cuộc hành trình, đếm từng ngày, đo cuộc đời mình theo quãng đường phải đi, và bị giày vò bởi vì tai họa sắp đến.”)
Cái đích của cuộc đời chúng ta là cái chết; đó là đối tượng tất yếu mà chúng ta nhắm tới. Nếu nó khiến chúng ta kinh hãi, thì làm sao có thể tiến thêm một bước mà không run rẩy? Phương thuốc của đám đông thô tục là không nghĩ đến nó. Nhưng sự mù quáng thô thiển ấy có thể xuất phát từ một sự ngu muội khinh hoàng đến mức nào? Họ phải cưỡi con lừa bằng cái đuôi:
(“Qui capite ipse suo instituit vestigia retro”. – Lucretius, IV. 474)
(“Kẻ tự lấy đầu mình làm nơi đặt những bước chân đi ngược.”)
Chẳng có gì là đáng ngạc nhiên nếu họ thường xuyên sa vào cạm bẫy. Người ta làm cho dân chúng khiếp sợ chỉ bằng việc nhắc đến cái chết; phần đông đều làm dấu thánh giá khi nghe tên nó, xem như thể đó là tên của quỷ dữ. Và vì việc lập di chúc gắn liền với cái chết, đừng mong họ chịu cầm bút trước khi thầy thuốc đã đưa ra bản án cuối cùng. Đến lúc ấy, giữa đau đớn và kinh hoàng, Chúa biết họ là còn có được bao nhiêu sáng suốt để làm việc ấy.
Vì âm tiết “chết” quá thô lậu đối với tai họ, và dường như nó mang điềm gở, người La Mã đã học cách làm mềm nó, kéo dài nó bằng những lối nói vòng. Thay vì nói “ông ấy đã chết”, họ nói “ông ấy đã thôi sống”, hoặc “ông ấy đã sống”. Chỉ cần còn có chữ sống, dù là một sự sống đã qua, họ vẫn được an ủi.“ Chúng ta đã vay mượn [lối diễn đạt của chúng ta về thời gian sống là đáng giá] từ cố Giáo sư Jehan, giống như người ta thường nói, có thêm thời gian trì hoãn nợ thì cũng đáng giá như tiền bạc.“
Tôi sinh vào khoảng giữa mười một và mười hai giờ trưa, ngày cuối cùng của tháng Hai năm một nghìn năm trăm ba mươi ba, theo cách tính hiện nay, khi năm mới bắt đầu vào tháng Giêng. Vừa đúng mười lăm ngày trước, tôi đã vượt qua tuổi ba mươi chín; ít nhất tôi còn phải sống thêm ngần ấy nữa. Thế nhưng, cứ bận tâm đến ý nghĩ về một điều còn xa như thế, thì quả là điên rồ.
Nhưng có gì khác đâu? Người trẻ cũng như già đều rời khỏi cuộc đời trong cùng một điều kiện. Không ai ra khỏi cuộc đời khác đi với cách mà mình bước vào đời. Hơn nữa, không có người nào già nua đến đâu, miễn là còn thấy Methuselah ở phía trước, mà lại không nghĩ rằng mình vẫn còn hai mươi năm trong thân thể.
Hỡi kẻ khờ khạo đáng thương, ai đã định ra giới hạn đời ngươi? Ngươi dựa vào những lời tính toán của các thầy thuốc. Hãy nhìn vào thực tế và kinh nghiệm thì hơn. Theo lẽ thường, ngươi đã sống đến giờ này nhờ một ân huệ đặc biệt. Ngươi đã vượt quá những giới hạn thông thường của đời người. Và nếu quả đúng như vậy, hãy đếm trong số những người quen biết của ngươi xem có bao nhiêu người đã chết trước tuổi ngươi, so với số người đã đạt đến tuổi ấy. Ngay cả trong số những người đã làm cho đời mình trở nên danh giá nhờ danh tiếng, hãy lập một danh sách, và tôi dám đánh cuộc rằng sẽ tìm được nhiều người chết trước tuổi ba mươi lăm hơn là sau tuổi ấy.
Thật hợp với lý trí và lòng mộ đạo khi lấy chính cuộc đời của Đức Giêsu Kitô làm gương: Ngài kết thúc đời mình ở tuổi ba mươi ba. Người vĩ đại nhất, xét đơn thuần như một con người, Alexandre, cũng chết ở tuổi ấy. Có biết bao cách để cái chết bất ngờ đến!
(“Quid quisque vitet, nunquam homini satis
Cautum est in horas.“ – Horace, Oden II, 13, 13-14)
(“Con người không bao giờ có thể đủ cẩn trọng để biết trước trong từng giờ, điều gì mình cần tránh.”)
Tôi không nói đến những cơn bệnh sốt hay viêm màng phổi. Có ai từng nghĩ rằng Công tước xứ Bretagne (Jean II) lại chết ngạt vì đám đông chen lấn, khi Đức Giáo hoàng Clément vào thành Lyon, người láng giềng của tôi? Chẳng phải anh đã từng thấy một trong những vị vua của chúng ta bị giết trong lúc vui chơi sao? Và chẳng phải một trong những tổ tiên của ông ta đã chết vì bị một con lợn húc phải đó sao? Aeschylus, được báo trước rằng mình sẽ chết vì một ngôi nhà đổ, đã cẩn thận đứng ngoài trời; vậy mà ông lại bị một mai rùa đập chết – con rùa vừa được một con đại bàng đánh rơi từ trên không. Người khác chết vì một hạt nho; một vị hoàng đế chết vì một vết xước của chiếc lược khi đang chải tóc; Aemilius Lepidus chết vì vấp chân vào ngưỡng cửa nhà mình; Aufidius chết vì va phải cánh cửa phòng nghị sự khi bước vào. Và Cornelius Gallus, vị pháp quan chết giữa hai đùi của phụ nữ; Tigellinus, viên đội trưởng đội tuần tra ở Rome; Ludovic, con trai Guy de Gonzague, Hầu tước Mantoue; và, một ví dụ còn tệ hơn nữa, Speusippus, triết gia theo triết thuyết Platon, cùng một vị giáo hoàng của chúng ta. Tội nghiệp cho Bebius, một vị thẩm phán, trong lúc cho một bên trong phe tranh tụng được hoãn vụ kiện tám ngày, thì chính ông lại bị thần chết bắt đi, bởi thời hạn sống của ông đã hết. Còn Caius Julius, một thầy thuốc, đang xoa thuốc cho mắt một bệnh nhân, thì cái chết khép lại chính đôi mắt ông.
Và nếu cho phép tôi góp thêm một người vào danh sách này, đó là một người anh của tôi, Đại úy Saint-Martin, mới hai mươi ba tuổi, người đã sớm chứng tỏ khá nhiều lòng dũng cảm. Trong lúc chơi bóng, anh nhận một cú bóng đánh trúng ngay phía trên tai phải, không để lại dấu hiệu nào của vết bầm hay vết thương. Anh không ngồi xuống, cũng không nghỉ; nhưng năm hay sáu giờ sau, anh chết vì một cơn đột quỵ do cú đánh ấy gây ra.
Những ví dụ quá thường xuyên và thông thường ấy cứ hiện ra trước mắt chúng ta, vậy làm sao mà chúng ta có thể gạt bỏ ý nghĩ về cái chết, và không cảm thấy rằng, trong từng khoảnh khắc, nó đang nắm lấy chúng ta? Anh sẽ nói với tôi: “Điều đó có quan trọng gì, miễn sao người ta không tự làm khổ mình vì nó?”
Tôi cũng nghĩ vậy. Và bằng bất cứ cách nào đi nữa, người ta có thể tránh được những đòn roi của số phận, dù phải chui dưới lớp da của một con bê đi nữa, tôi cũng không phải người sẽ lùi bước trước cách ấy. Bởi vì đối với tôi, chỉ cần được sống thanh thản là đủ; và thú vui tốt nhất mà tôi có thể tự ban cho mình, tôi sẽ nhận lấy, cho dù nó có ít vẻ vang, ít đáng làm gương đến đâu tùy anh muốn.
(“Praetulerim delirus inersque videri,
Dum mea delectent mala me, vel denique fallant,
Quam sapere et ringi.” – Horace, Esprit II, 2, 126-128)
(“Tôi thà bị xem là điên rồ và lười nhác, miễn là những khiếm khuyết của tôi làm cho tôi vui, hoặc ít ra đánh lừa được tôi, còn hơn là khôn ngoan mà tôi phải cắn rứt.”)
Nhưng thật là điên rồ nếu nghĩ rằng có thể đạt được điều ấy bằng cách đó. Người ta đi, đến, chạy nhảy, khiêu vũ, chẳng hề nghe tin tức gì về cái chết. Tất cả những điều ấy đều tốt đẹp. Nhưng khi cái chết đến, dù với chính họ, hay với vợ con, bạn hữu của họ, bất thần bắt gặp họ trong lúc không chuẩn bị và hoàn toàn phơi trần, thì những đau đớn, những tiếng kêu gào, cơn cuồng nộ và nỗi tuyệt vọng nào sẽ đè bẹp họ! Anh có bao giờ thấy một cảnh nào làm hạ thấp biến đổi và rối loạn con người đến thế chưa?
Phải chuẩn bị cho điều ấy từ sớm hơn. Còn sự thờ ơ thú vật kia, giả như nó có thể nào trú ẩn trong đầu óc một con người có lý trí – điều mà tôi hoàn toàn cho là không thể – thì nó khiến ta phải trả giá quá đắt cho mặt hàng của nó.
Nếu cái chết là một kẻ thù có thể tránh được, tôi sẽ khuyên người ta mượn cả những vũ khí của sự hèn nhát. Nhưng vì nó không thể tránh được; vì nó bắt kịp anh khi anh chạy trốn và hèn nhát cũng chẳng khác gì khi anh là một người lương thiện:
(“Nempe et fugacem persequitur virum,
Nec parcit imbellis juventae
Poplitibus, timidoque tergo.” – Horace, Oden, III, 2, 14)
(“Cái chết truy đuổi cả kẻ trốn chạy, chẳng dung thứ cho người trẻ yếu mềm nhượng bộ, hay những cái khoeo chân và tấm lưng run rẩy vì sợ hãi.“)
Và vì chẳng có thứ áo giáp nào che chở được anh:
(“Ille licet ferro cautus se condat aere,
Mors tamen inclusum protrahet inde caput. – Properz, III, 18, 25)
(„Dù kẻ đó có cẩn trọng tự giấu mình sau lớp thành trì bằng sắt đá và đồng thau, Cái chết vẫn sẽ lôi cái đầu đang ẩn trốn của hắn ra ngoài.“)
vậy hãy học cách đứng vững để đón nhận nó và chiến đấu với nó. Và để bắt đầu tước khỏi nó lợi thế lớn nhất mà nó có đối với chúng ta, hãy đi theo một con đường hoàn toàn trái ngược với thói thường. Hãy tước bỏ vẻ xa lạ của nó đối với chúng ta; hãy thường xuyên tiếp cận, làm quen với nó. Đừng để nó thường xuyên hiện diện trong tâm trí chúng ta như là cái chết. Hãy luôn luôn đưa nó ra trước trí tưởng tượng của mình dưới mọi hình dạng.
Khi một con ngựa chợt vấp, khi một viên ngói rơi xuống, khi chỉ bị một mũi kim châm nhẹ, hãy lập tức tự nhủ: “Vậy thì sao, nếu đó chính là cái chết?” Và ngay từ đó, hãy cứng cỏi lại, hãy tự rèn luyện mình.
Giữa những ngày hội hè và niềm vui, hãy luôn giữ trong lòng điệp khúc nhắc nhớ về thân phận của mình; đừng để mình bị niềm vui cuốn đi đến mức không có lúc nào ký ức về việc niềm vui ấy có thể trở thành mục tiêu của cái chết, và có biết bao cách để cái chết đe dọa nó, quay trở lại trong tâm trí.
Người Ai Cập đã làm như vậy: giữa những bữa tiệc và trong lúc đang thưởng thức những món ăn ngon nhất, họ cho mang đến một bộ xương khô của một người chết để làm lời cảnh tỉnh cho các thực khách.
(“Omnem crede diem tibi diluxisse supremum.
Grata superveniet, quae non sperabitur, hora.” – Horace, Epist. I. 4, 13)
(“Hãy coi mỗi ngày như thể nó đã soi sáng cho anh lần cuối;
giờ phút không được mong đợi sẽ đến, và sẽ được đón nhận trong niềm vui.”)
Không ai biết cái chết chờ chúng ta ở đâu; vậy hãy để cho chúng ta chờ nó ở khắp mọi nơi. Suy niệm trước về cái chết chính là suy niệm trước về tự do. Ai đã học cách chết thì đã quên học cách phục vụ. Biết chết là được giải thoát ra khỏi mọi sự lệ thuộc và cưỡng bức. Không có gì là xấu trong cuộc đời đối với người đã hiểu rõ rằng mất đi cuộc sống tự nó không phải là một điều xấu.
Vị vua bất hạnh của Macedonia, lúc ấy đang là tù nhân của Paulus Aemilius, có sai một gia nhân đến xin ông đừng đưa mình đi trong cuộc khải hoàn. Ông trả lời: “Hắn hãy tự mình cầu xin điều ấy với chính mình.”
Thật vậy, trong mọi việc, nếu tự nhiên không ban cho ta một chút gì, thì nghệ thuật và công phu cũng khó có thể tiến xa. Về phần tôi, tôi vốn không phải là người u sầu, mà là người hay mang nặng suy tư. Không có điều gì mà tôi đã luôn nghiền ngẫm nhiều hơn là những hình dung về cái chết; ngay cả trong thời kỳ phóng túng nhất của tuổi đời tôi:
(“Jucundum cum aetas florida ver ageret,”- Catull, LXVIII, 16)
(“Khi tuổi xuân tươi đẹp đang sống những ngày mùa xuân hoan lạc,”)
giữa các quý bà và những cuộc vui, người ta tưởng tôi đang bận tâm một mình về một cơn ghen nào đó, hay về sự bất định của một niềm hy vọng nào đó; trong khi đó tôi lại đang nghĩ đến một người, mới những ngày trước đây, sau khi rời khỏi buổi tiệc giống hệt như buổi tiệc này, trong đầu đầy những chuyện nhàn rỗi, tình yêu và cuộc sống vui thú như tôi, anh ta bị một cơn sốt dữ dội và chết đi và cái chết cũng đang chờ đợi ngay bên tai tôi:
(“Jam fuerit, nec post unquam revocare licebit.”, Lukrez, III, 928)
(“Rồi nó sẽ qua đi, và sau đó sẽ không bao giờ còn có thể gọi lại.”)
Những suy nghĩ này không làm cho tôi cau mày hơn bất cứ suy nghĩ nào khác. Thoạt đầu, chúng ta không thể, nhưng phải cảm thấy những mũi kim châm của những hình dung như thế. Nhưng khi chúng ta thường xuyên nghiền ngẫm chúng và lại quay đi trở lại với chúng trong một thời gian dài, chúng ta chắc chắn sẽ làm quen với chúng.
Nếu không, về phần tôi, hẳn là tôi đã phải sống trong nỗi sợ hãi và điên loạn thường trực; bởi chưa từng có người nào ngờ vực mạng sống của mình hơn tôi, và cũng chưa từng có người nào ít đặt niềm tin vào thời gian còn lại của đời mình hơn tôi.
Sức khỏe của tôi, vốn cho đến nay vẫn rất mạnh mẽ và chỉ hiếm khi bị gián đoạn, cũng không làm cho tôi hy vọng sống lâu hơn; bệnh tật cũng chẳng khiến tôi rút ngắn niềm hy vọng ấy, tôi đều có cảm tưởng rằng mỗi phút mình đang vuột khỏi tay mình. Và tôi không ngừng tự nhắc: “Điều gì có thể làm vào một ngày khác thì cũng có thể làm ngay hôm nay.”
Thật vậy, những tai nạn và hiểm nguy chỉ đưa chúng ta đến gần cái chết rất ít, hoặc chẳng đưa chúng ta đến gần hơn chút nào; và nếu nghĩ đến biết bao nhiêu hiểm nguy khác, hàng triệu hiểm nguy đang treo trên đầu chúng ta, bên cạnh tai nạn mà ta tưởng là đang đe dọa mình nhất, chúng ta sẽ thấy rằng, dù khỏe mạnh hay đang lên cơn sốt, ở ngoài biển hay trong nhà, giữa chiến trận hay lúc bình yên, cái chết cũng ở gần chúng ta như nhau.
(“Nemo altero fragilior est: nemo in crastinum sui certior.” Seneca, Espist, 91)
(“Không ai mong manh hơn người khác; không ai chắc chắn về ngày mai của chính mình”)
Những việc tôi còn phải làm trước khi chết, dù tôi có thời gian để hoàn thành trong vui thú, tôi vẫn thấy một giờ đồng hồ là quá ngắn.
Mới hôm nọ, một người lật xem bảng ghi chép của tôi và bắt gặp một ghi chú về một việc mà tôi muốn được thực hiện sau khi chết. Tôi nói với ông ta – và điều ấy quả thật là đúng – rằng, khi tôi chỉ còn cách nhà mình một dặm, đang vui và khỏe mạnh, tôi đã vội ghi điều ấy, để khỏi tự bảo đảm với mình rằng mình sẽ còn về đến nhà.
Vì tôi là người luôn ấp ủ những suy nghĩ của mình và ghi chúng vào lòng, nên lúc nào tôi cũng chuẩn bị cho những gì có thể xảy đến với mình. Và khi cái chết đến, nó sẽ chẳng báo cho tôi điều gì mới mẻ.
Chúng ta phải luôn mang giày và sẵn sàng lên đường, trong khả năng của mình; và trên hết, phải cẩn thận để khi ấy ta không còn việc gì khác phải lo ngoài chính mình:
(“Quid brevi fortes jaculamur aevo
Multa?” – Horace, Oden, II, 16, 17)
(“Trong một đời sống ngắn ngủi, cớ sao chúng ta lại lao mình vào quá nhiều dự định?”)
Bởi chúng ta sẽ có đủ việc để làm mà không cần thêm bất cứ gánh nặng nào khác. Người này than phiền không chỉ vì cái chết mà vì nó cắt ngang đà chiến thắng đẹp đẽ của mình; người kia vì phải ra đi trước khi kịp gả con gái, hoặc lo cho xong việc giáo dục con cái; người này tiếc về sự gần gủi của vợ, người kia tiếc về người con trai, xem đó là những tiện ích chính yếu của đời mình.
Còn phần tôi, hiện giờ, nhờ ơn Chúa, đang ở trong một trạng thái mà tôi có thể ra đi bất cứ lúc nào Ngài muốn, không hề tiếc nuối điều gì, ngoài chính sự sống – nếu như việc mất nó khiến tôi phải đau lòng. Tôi đang tháo gỡ mình ra khỏi mọi ràng buộc; với mỗi người, lời từ biệt của tôi đã nói được một nửa, chỉ còn thiếu với chính tôi. Chưa từng có ai chuẩn bị rời bỏ thế gian một cách thanh khiết và trọn vẹn hơn, cũng chưa từng có ai tách mình khỏi thế gian một cách toàn diện hơn, như tôi dự định làm.
(“Miser ô miser, aiunt, omnia ademit
Una dies infesta mihi tot praemia vitae.” – Lukrez, III, 911)
(“Khốn khổ thay, họ nói chỉ một ngày bất hạnh đã cướp khỏi tôi biết bao phần thưởng của cuộc đời.”)
Và người thợ xây nói:
(“Manent, dicti, opera interrupta, minaeque
Murorum ingentes.” – Vergil, Aen, IV, 88)
(“Những công trình còn dang dở vẫn nằm đó,
và những bức tường khổng lồ còn đe doạ chưa làm xong”)
Đừng nên vạch ra những kế hoạch quá lâu dài, hoặc ít nhất đừng có đam mê đến mức đau khổ vì không thấy chúng hoàn tất. Chúng ta sinh ra là để hành động:
(“Cum moriar, medium solvar et inter opus.” – Ovid, Armo II, 10, 36)
(“Khi chết, ước gì tôi tan biến giữa lúc công việc còn đang dang dở.”)
Tôi muốn người ta hành động và kéo dài những công việc của đời sống đến chừng nào mà còn có thể; và tôi muốn cái chết bắt gặp tôi lúc đang trồng những cây bắp cải, nhưng chẳng bận tâm đến cái chết, và càng chẳng bận tâm hơn nữa đến khu vườn chưa hoàn tất của mình.
Tôi từng thấy một người chết; vào trong lúc cuối, ông ta không ngừng than phiền rằng số phận đã cắt đứt sợi dây lịch sử mà ông đang biên soạn, đúng vào khoảng vị vua thứ mười lăm hay thứ mười sáu của chúng ta.
(“Illud in his rebus non addunt, nec tibi earum
Jam desiderium rerum super insidet una. – Lukrez III, v, 913)
(“Họ không nói thêm rằng trong những hoàn cảnh ấy,
lòng khao khát những điều đó cũng không còn nữa.”)
Chúng ta phải trút bỏ những tâm trạng thông thường và tai hại ấy. Cũng như người ta đã đặt các nghĩa trang ngay cạnh nhà thờ và tại những nơi đông người ta lui tới nhiều nhất trong thành phố, để – như Lycurgus nói – tập cho dân thường, phụ nữ và trẻ em không còn kinh hãi khi nhìn thấy một người chết, và để cảnh tượng thường xuyên của xương cốt, mồ mả và những đám tang nhắc nhở cho chúng ta về thân phận mình:
(“Quin etiam exhilarare viris convivia caede
Mos olim, et miscere epulis spectacula dira
Certantum ferro, saepe et super ipsa cadentum
Pocula respersis non parco sanguine mensis.” – Silius Italicus IX, v, 51)
(“Xưa kia, người ta còn có tục làm cho các bữa tiệc thêm vui bằng cách gây cảnh giết chóc, trộn lẫn với những cảnh tượng kinh hoàng của những kẻ đấu gươm, họ thường ngã gục trên những ly rượu và máu chảy lên bàn tiệc.”)
Và cũng như người Ai Cập, sau những bữa tiệc, họ cho người ta trình ra trước mặt thực khách một hình tượng lớn về cái chết, rồi một người hô lên: “Hãy uống và vui chơi, vì rồi khi chết, ngươi cũng sẽ như vậy.”
Tôi cũng đã thành thói quen là không chỉ giữ cái chết trong trí tưởng tượng, mà còn luôn đặt nó trong lời nói. Và chẳng có điều gì làm tôi thích tìm hiểu hơn là cái chết của con người: họ đã nói gì, nét mặt ra sao, dáng điệu thế nào khi đối diện với nó; cũng chẳng có chỗ nào trong lịch sử khiến cho tôi chú ý nó kỹ lưỡng hơn thế. Điều ấy thể hiện rõ trong sự nhiều ví dụ mà tôi đưa ra, và trong sự yêu thích đặc biệt mà tôi dành cho chủ đề này. Nếu tôi là người viết sách, tôi sẽ lập một tập ghi chép có bình luận về những cái chết khác nhau, Ai dạy con người cách chết thì sẽ dạy họ cách sống. Dicaearchus cũng đã làm một tác phẩm với nhan đề tương tự, nhưng nhằm một mục đích khác và ít hữu ích hơn.
Người ta sẽ nói với tôi rằng thực tế vượt xa trí tưởng tượng đến mức là không có cuộc đấu kiếm nào đẹp đẽ đến đâu mà không tan biến khi người ta thực sự phải đối diện với cái chết. Hãy cứ để cho họ nói. Việc suy nghĩ trước đó chắc chắn đem lại một lợi thế rất lớn. Và chẳng lẽ việc ít nhất đi đến tận đó mà không bị biến đổi, không bị lên cơn sốt, lại là chuyện chẳng đáng kể sao?
Hơn nữa, chính Tự nhiên cũng chìa tay giúp cho chúng ta và ban cho chúng ta lòng can đảm. Nếu đó là một cái chết ngắn ngủi và tàn bạo, chúng ta không có vui thích gì để sợ nó; nếu là một cái chết khác, tôi nhận thấy rằng, càng đi sâu vào chuyện bệnh tật, tôi càng tự nhiên bắt đầu coi thường cuộc sống.
Tôi thấy mình phải tiêu hóa quyết định chết này khó khăn hơn nhiều khi đang khỏe mạnh so với khi đang lên cơn sốt. Bởi vì tôi không còn bám chặt vào những tiện nghi của cuộc sống nữa, khi tôi bắt đầu mất đi khả năng sử dụng và niềm vui từ chúng; vì thế, tôi nhìn cái chết bằng một ánh mắt ít kinh hãi hơn nhiều.
Điều ấy khiến tôi hy vọng rằng, càng rời xa trạng thái này và càng đến gần trạng thái kia, tôi sẽ càng dễ dàng chấp nhận sự trao đổi giữa chúng.
Cũng như trong nhiều trường hợp khác, tôi đã nghiệm thấy điều mà Caesar nói: những sự vật thường có vẻ lớn lao hơn khi nhìn từ xa so với khi đến gần. Tôi nhận thấy rằng, khi còn khỏe mạnh, tôi kinh sợ bệnh tật nhiều hơn rất nhiều so với khi thực sự cảm nhận nó.
Niềm vui, sự khoái lạc và sức mạnh mà tôi đang có khiến cho trạng thái đối nghịch với chúng hiện ra trước mắt tôi quá khác biệt đến mức mà bằng trí tưởng tượng, tôi phóng đại những bất tiện ấy lên gấp đôi, hình dung chúng nặng nề hơn nhiều so với khi thực sự mang chúng trên vai. Tôi hy vọng cái chết cũng sẽ xảy ra với tôi như vậy.
Hãy nhìn vào những biến đổi và suy giảm thường ngày mà chúng ta phải chịu đựng, để thấy rằng Tự nhiên làm thế nào khiến chúng ta dần dần mất đi cảm giác về sự mất mát và suy thoái của chính mình. Còn lại gì nơi một ông già của sức mạnh thời trai trẻ và của cuộc đời đã qua?
(“Heu senibus vitae portio quanta manet.” – Gallus Maximianus e, leg. I. v.16)
(“Ôi, phần đời còn lại của những người già còn được bao nhiêu!”)
Caesar từng nói với một người lính trong đội cận vệ, nay đã kiệt quệ và tàn tạ, khi người này ra đường xin ông cho phép mình được tự sát. Nhìn dáng vẻ già nua, suy kiệt của anh ta, Caesar đã dí dỏm trả lời: “Vậy là ngươi tưởng mình vẫn còn sống sao?”
Nếu con người đột nhiên rơi ngay vào tình trạng ấy, tôi không tin chúng ta có đủ sức chịu đựng một sự biến đổi như vậy. Nhưng được Tự nhiên dẫn dắt bằng bàn tay của mình, theo một nhịp độ êm ái và gần như là không cảm nhận được, từng chút một, từng bậc một, Tự nhiên đưa chúng ta rơi xuống trạng thái khốn khổ ấy và làm cho chúng ta quen với nó. Vì thế, chúng ta không cảm thấy cú chấn động nào khi tuổi trẻ chết dần trong chúng ta; mà xét về bản chất và thực tế, đó là một cái chết khắc nghiệt hơn là cái chết trọn vẹn của một đời sống đã suy kiệt, và khắc nghiệt hơn là cả cái chết của tuổi già.
Bởi bước chuyển biến từ tình trạng đau yếu sang không còn gì không nặng nề bằng bước chuyển biến từ một trạng thái sống trong êm ái, phát triển sang một trạng thái sống nhọc nhằn và đau đớn.
Một khi thân thể đã cong xuống và co quắp, thì có ít sức hơn để mang thêm một gánh nặng; linh hồn chúng ta cũng vậy. Vì thế, chúng ta phải nâng cho linh hồn đứng thẳng và để cho nó chống lại sức ép của kẻ thù này.
Bởi vì, linh hồn không thể tìm được sự yên nghỉ chừng nào mà nó còn sợ hãi cái chết, nếu nó đã trở nên vững tin trước cái chết, nó có thể tự hào về một điều gần như vượt quá giới hạn của thân phận con người rằng sự bất an, đau khổ, sợ hãi, thậm chí không một nỗi khó chịu nhỏ nhoi nào có thể trú ngụ trong linh hồn:
(“Non vultus instantis tyranni
Mente quatit solida, neque Auster
Dux inquieti turbidus Adriae,
Nec fulminantis magna Jovis manus.” – Horace, Oden, III, 3, 3)
(“Không một gương mặt đe dọa nào của bạo chúa, không trận cuồng phong nào từ phía Nam của biển Adriatic đang cuộn sóng, và cũng không bàn tay khổng lồ của Jupiter sấm sét nào, tất cả không có thể làm lay chuyển một tâm trí vững vàng.”)
Khi ấy, linh hồn trở thành chủ nhân của những đam mê và dục vọng của mình; chủ nhân của sự thiếu thốn, nỗi hổ thẹn, nghèo khổ và mọi thương tổn khác mà số phận có thể gây ra. Hãy giành lấy lợi thế ấy nếu có thể. Đó chính là sự tự do chân chính và tối thượng, một thứ mà nó cho chúng ta sức mạnh để giơ ngón tay chế nhạo bạo lực và bất công, để cười nhạo nhà tù và xiềng xích:
(“In manicis, et
Compedibus, saevo te sub custode tenebo.
Ipse Deus simul atque volam, me solvet: opinor,
Hoc sentit, moriar. Mors ultima linea rerum est.” – Horace, Epist, I, 16, 76)
(“Ta sẽ giữ ngươi trong xiềng xích và cùm chân, dưới sự canh giữ của một cai ngục tàn bạo. Chính Thượng là người sẽ giải thoát cho ta khi ta muốn: ta nghĩ, điều Người muốn nói ở đây là ta sẽ chết. Cái chết là ranh giới cuối cùng của mọi sự“)
Tôn giáo của chúng ta không dựa trên nền tảng nhân văn nào vững chắc hơn là sự khinh miệt đời sống. Không chỉ có lý luận của lý trí kêu gọi chúng ta đến với điều ấy. Vì tại sao chúng ta phải sợ mất một thứ mà một khi đã mất thì không còn có thể tiếc nuối? Và vì chúng ta bị đe dọa bởi biết bao hình thức chết khác nhau, chẳng phải việc sợ tất cả những cái chết ấy còn tệ hơn là chịu đựng một cái chết duy nhất hay sao? Xảy ra lúc nào thì có gì quan trọng, khi nó là điều không thể tránh khỏi?
Có người nói với Socrates: “Ba mươi bạo chúa đã kết án ông tử hình.” Ông trả lời: “Và Tự nhiên cũng đã kết án họ như thế.”
Thật điên rồ khi chúng ta tự làm khổ mình vì chính khoảnh khắc chuyển sang trạng thái được giải thoát khỏi mọi đau khổ! Cũng như sự ra đời của chúng ta đã mang đến sự ra đời của mọi vật, cái chết của chúng ta cũng sẽ là cái chết của mọi vật. Vì vậy, thật là ngu ngốc khi khóc than rằng một trăm năm nữa chúng ta sẽ không còn sống, nó cũng khác gì khóc than rằng chúng ta đã chưa sống cách đây một trăm năm trước.
Cái chết là nguồn gốc của một đời sống khác. Chúng ta đã khóc như thế nào, đã phải trả giá thế nào để bước vào đời sống này; khi bước vào, chúng ta cũng đã trút bỏ lớp áo cũ của mình như thế.
Không có gì có thể là quá nặng nề nếu nó chỉ xảy ra một lần. Có lý nào phải sợ trong một thời gian dài một điều chỉ kéo dài trong một khoảnh khắc! Trường thọ hay đoản mệnh, qua cái chết, cuối cùng cũng trở thành như nhau. Bởi dài hay ngắn không còn thuộc về những gì đã không còn nữa.
Aristotle nói rằng có những con vật nhỏ trên sông Hypanis chỉ sống được một ngày. Con nào chết lúc tám giờ sáng thì chết trẻ; con nào chết lúc năm giờ chiều thì chết già. Ai trong chúng ta lại không bật cười khi thấy người ta đem cái khoảnh khắc ngắn ngủi ấy ra cân nhắc như một chuyện may rủi? Sự hơn kém về thời lượng trong đời sống của chúng ta, nếu đem so với điều vĩnh cửu, hay thậm chí đối với tuổi thọ của núi non, sông ngòi, tinh tú, cây cối, và ngay cả một số loài động vật, cũng chẳng kém phần nực cười.
Nhưng Tự nhiên buộc chúng ta phải như vậy. Tự nhiên nói: “Hãy rời khỏi thế giới này, như các ngươi đã bước vào”. Cùng một chặng đường mà các ngươi đã đi từ cái chết đến sự sống, không đam mê và không sợ hãi, hãy đi ngược lại từ sự sống đến cái chết. Cái chết của các ngươi là một bộ phận của trật tự vũ trụ. Nó là một bộ phận của đời sống thế gian:
(“Inter se mortales mutua vivunt. – – – –
Et quasi cursores vitae lampada tradunt.” – Lukrez, II v. 75 – 78)
(“Con người sống nhờ lẫn nhau,
và như những người chạy tiếp sức, họ trao ngọn đuốc của đời sống cho nhau.”)
“Chẳng lẽ ta sẽ vì các ngươi mà thay đổi cấu trúc tuyệt đẹp này của vạn vật? Đó là điều kiện của sự sáng tạo các ngươi; cái chết là một phần của chính các ngươi: các ngươi đang chạy trốn khỏi chính mình. Sự tồn tại mà các ngươi đang hưởng thụ được chia đều giữa cái chết và sự sống. Ngày đầu tiên của đời các ngươi đưa các ngươi tiến về cái chết cũng như tiến về sự sống:
(“Prima, quae vitam dedit,
carpsit.” – Seneca, Hercul, fur, act, III, v. 874)
(“Giờ đầu tiên mà sự sống ban cho
cũng đã lấy đi một giờ của nó.”)
(“Nascentes morimur, finisque ab origine pendet. – Minilus, Astron. IV, 16)
(“Vừa sinh ra là chúng ta đã chết dần,
và kết cục đã treo sẵn từ lúc khởi đầu.”)
Mọi thời gian các ngươi sống, các ngươi đều lấy nó khỏi sự sống; đó là cái giá mà chính sự sống phải trả. Công việc liên tục của đời các ngươi là xây dựng cái chết. Các ngươi đang ở trong cái chết trong khi đang sống. Bởi các ngươi chỉ ở sau cái chết khi các ngươi không còn sống nữa. Hoặc nếu các ngươi thích nói như thế hơn: các ngươi đã chết sau đời sống; nhưng trong đời sống, các ngươi là những kẻ đang chết. Và cái chết chạm vào kẻ đang chết mạnh mẽ hơn, dữ dội hơn và thực chất hơn là chạm vào kẻ đã chết. Nếu các ngươi đã biết sử dụng đời sống, các ngươi đã được nuôi đầy bởi nó; hãy ra đi mãn nguyện:
(“Cur non ut plenus vitae conviva recedis?” – Lukrez, III, v. 951)
(“Sao ngươi không ra đi như một thực khách đã no say trong bữa tiệc của cuộc đời?”)
Nếu các ngươi không biết sử dụng đời sống, nó sẽ vô ích đối với các ngươi, thì mất nó có gì đêu đáng kể? Các ngươi còn muốn nó để làm gì nữa?
(“Cur amplius addere quaeris
Rursum quod pereat male, et ingratum
Occidat omne?” – Lukrez III, v. 954)
(“Tại sao còn muốn thêm vào nữa
một thứ rồi cũng sẽ mất đi một cách vô ích,
để tất cả lại đều kết thúc?”)
Đời sống tự nó không thiện cũng chẳng ác; nó là nơi trú ẩn của thiện và ác, tùy theo cách ngươi làm cho nó trở thành như thế nào.
Và nếu các ngươi đã sống một ngày, các ngươi đã thấy tất cả. Một ngày bằng với mọi ngày khác. Không có ánh sáng nào khác, cũng chẳng có đêm nào khác. Mặt trời này, mặt trăng này, những tinh tú này, trật tự này – chính là những gì tổ tiên các ngươi đã hưởng, và cũng là những gì các hậu duệ của các ngươi sẽ tiếp tục nhìn thấy:
(“Non alium videre patres, aliumve nepotes
Aspicient.” – Manilius, I v. 529)
(“Cha ông các ngươi đã không thấy,
và con cháu các ngươi cũng sẽ không thấy.”)
“Và trong khi trường hợp xấu nhất đến, toàn bộ sự phân chia và biến đổi của các màn trong vở hài kịch của ta đều được hoàn tất trong một năm. Nếu các ngươi chú ý đến vòng tuần hoàn của bốn mùa, chúng ôm trọn tuổi thơ, tuổi thiếu niên, tuổi trưởng thành và tuổi già của thế giới. Nó đã diễn xong màn diễn của mình. Nó không biết một cách nào khác ngoài việc bắt đầu lại. Mọi thứ sẽ luôn luôn như thế:
(“Versamur ibidem, atque insumus usque,
Atque in se sua per vestigia volvitur annus.” – Lukrez, III, v.1093)
(“Chúng ta vẫn xoay vòng cùng một nơi,
và cứ quay trở lại.”)
Ta không định bày ra cho các ngươi những trò tiêu khiển mới:
(“Nam tibi praeterea quod machiner, inveniamque
Quod placeat, nihil
Est, eadem sunt omnia semper.” – Lukrez, III, v..957)
(“Ta chẳng còn nghĩ ra cho ngươi chuyện gì mới hay tìm thứ mà có thể làm ngươi hài lòng;
mọi thứ vẫn luôn luôn như thế.”)
Hãy nhường chỗ cho những người khác, như họ đã nhường chỗ cho các ngươi. Bình đẳng là phần đầu tiên của công lý. Ai có thể phàn nàn vì mình được cảm thông khi tất cả mọi người cùng được cảm thông?
Dù các ngươi có thể sống lâu, cũng chẳng lo cho thời gian mà mình sẽ phải chết. Điều đó hoàn toàn vô ích. Các ngươi sẽ ở trong trạng thái sợ hãi ấy lâu chẳng khác gì đã chết ngay từ khi còn nằm nôi:
(“Licet, quod vis, vivendo vincere secla,
Mors aeterna tamen nihilominus illa manebit. – Lukrez, III, v. 1105)
(“Dẫu ngươi có thể muốn kéo dài tuồi thọ bằng thế kỷ,
cái chết vĩnh hằng ấy vẫn sẽ ở đó.”)
Và ta sẽ đặt các ngươi vào một trạng thái sẽ không còn có bất mãn nào.
(“In vera nescis nullum fore morte alium te,
Qui possit vivus tibi te lugere peremptum,
Stansque jacentem” – Lukrez, III, v. 898)
(“Ngươi không biết rằng trong cái chết thực sự
sẽ chẳng có một ‘ngươi’ khác nào còn sống
để khóc thương cho chính ngươi đã chết,
đứng bên kẻ đang nằm xuống.”)
Các ngươi cũng sẽ không còn khao khát sự sống mà các ngươi đang tiếc thương
(“Nec sibi enim quisquam tum se vitamque requirit,
Nec desiderium nostri nos afficit ullum.” – Lukrez, III, v. 932- 935)
(“Bởi khi ấy không ai còn tìm kiếm chính mình hay sự sống của mình,
cũng chẳng còn nỗi khao khát nào đối với chính chúng ta.”)
Cái chết ít đáng sợ hơn mọi thứ, nếu có thứ gì còn ít hơn nó:
(“Multo mortem minus ad nos esse putandum
Si minus esse potest
Quam quod nihil esse videmus.” – Lukrez, III, v. 939)
(“Phải nghĩ rằng cái chết đối với chúng ta không là gì cả,
nếu như chúng ta có thể biết được có thứ gì đó còn ít hơn cả là hư không.”)
Cái chết không liên quan đến các ngươi, dù các ngươi sống hay chết; khi sống, bởi các ngươi đang tồn tại; khi chết, bởi các ngươi không còn tồn tại nữa.
Không ai chết trước giờ của mình. Khoảng thời gian các ngươi còn để lại cũng chẳng thuộc về các ngươi hơn khoảng thời gian đã trôi qua trước khi các ngươi sinh ra:
(“Respice enim quam nil ad nos ante acta vetustas
Temporis aeterni fuerit. – Lukrez, III, v. 985)
“Hãy nhìn xem thời gian đã trôi qua trước chúng ta, có thể là nó kéo dài vô tận và
chẳng liên quan đến chúng ta”.
Dù đời sống của các ngươi kết thúc ở đâu, ở đó nó cũng đã trọn vẹn. Giá trị của việc sống không nằm ở độ dài, mà ở cách sử dụng. Có người sống lâu nhưng thực ra sống rất ít. Hãy chú tâm đến điều ấy trong khi các ngươi còn sống. Chính ý chí của các ngươi, chứ không phải số năm, quyết định các ngươi đã sống đủ hay chưa.
Các ngươi có bao giờ nghĩ rằng mình sẽ không đến được nơi mà mình vẫn không ngừng tiến về nơi đó không? Hơn nữa, không có con đường nào lại không có điểm kết thúc.
Và nếu sự đồng hành có thể an ủi các ngươi, chẳng phải thế gian cũng đang đi cùng một nhịp với các ngươi sao?
(“Omnia te, vita perfuncta, sequentur.”- Lukrez, III, v.981)
“Khi đời sống của ngươi đã kết liễu, mọi sự cũng sẽ theo ngươi.”
Chẳng phải mọi thứ đều chuyển động theo chuyển động của các ngươi sao? Có thứ gì không già đi cùng các ngươi? Hàng nghìn con người, hàng nghìn loài vật và hàng nghìn tạo vật khác cũng chết trong chính khoảnh khắc các ngươi chết:
(“Nam nox nulla diem, neque noctem aurora sequuta est,
Quae non audierit mistos vagitibus aegris
Ploratus, mortis comites et funeris atri.” – Lukrez, II, v. 579)
(“Không có đêm nào nối tiếp ngày,
không có bình minh nào nối tiếp đêm,
mà lại không nghe những tiếng khóc than hòa lẫn tiếng rên đau,
những bạn đồng hành của cái chết và đám tang u tối.”)
Vậy sao các ngươi còn lùi lại, khi không thể lùi?
Các ngươi đã thấy biết bao người chết mà cảm thấy nhẹ nhõm, nhờ đó thoát khỏi những khốn khổ lớn lao. Nhưng các ngươi có từng thấy một ai chết mà phải chịu điều ấy một cách tồi tệ không? Thật là ngây thơ khi kết án một điều mà các ngươi chưa từng trải nghiệm, dù nơi chính mình hay nơi người khác.
Tại sao ngươi phàn nàn với ta và với số phận? Ta có làm điều gì bất công với ngươi không? Ngươi có quyền cai trị ta, hay ta cai trị ngươi? Cho dù tuổi đời của ngươi chưa hoàn tất, đời sống của ngươi đã hoàn tất. Một người nhỏ bé vẫn là một con người trọn vẹn như một người to cao cả. Con người cũng như đời sống của họ không được đo bằng thước.
Chiron đã từ chối sự bất tử, sau khi chính Saturne, cha ông, vị thần của thời gian và sự trường tồn, cho ông biết những điều kiện của nó. Hãy thử hình dung một đời sống kéo dài vô tận sẽ khó chịu và nặng nề đối với con người biết bao, so với đời sống mà ta đã ban cho các ngươi. Nếu các ngươi không có cái chết, các ngươi sẽ không ngừng nguyền rủa ta, vì ta đã tước mất cái chết khỏi các ngươi. Ta đã cố ý trộn vào đời sống một chút cay đắng để ngăn các ngươi, khi nhận thấy sự tiện lợi của cái chết, khỏi ôm lấy nó quá tham lam và thiếu suy xét. Để giữ các ngươi trong sự chừng mực mà ta đòi hỏi – không chạy trốn sự sống, cũng không chạy trốn cái chết – ta đã pha trộn cả hai, giữa vị ngọt và vị đắng.
Ta đã dạy cho Thales, vị hiền triết đầu tiên của các ngươi, rằng sống và chết là những điều ngang nhau. Khi có người hỏi ông tại sao, nếu vậy, ông không chết, ông đã trả lời rất khôn ngoan: ‘Bởi vì nó là điều ngang nhau.’
Nước, đất, không khí, lửa và những thành phần khác của công trình mà ta tạo nên các ngươi không phải là những công cụ cho sự sống của các ngươi hơn là cho cái chết của các ngươi. Tại sao ngươi sợ ngày cuối cùng của mình? Nó không đóng góp gì cho cái chết của ngươi hơn bất kỳ ngày nào khác. Bước chân cuối cùng không tạo ra sự mệt mỏi; nó chỉ bộc lộ sự mệt mỏi. Mọi ngày đều đi về cái chết; ngày cuối cùng thì đến được nơi đó. Đó là những lời khuyên tốt lành của mẹ Tự nhiên chúng ta.”
Tôi đã thường tự hỏi vì sao, trong chiến tranh, hình ảnh cái chết – dù chúng ta nhìn thấy nó nơi chính mình hay nơi người khác – lại có vẻ ít kinh khủng hơn nhiều so với khi nó xuất hiện trong nhà mình. Nếu không như vậy, quân đội hẳn đã là một đạo quân toàn bác sĩ và những người than khóc.
Và vì cái chết ở đâu cũng chỉ là một, tại sao người dân quê và những người thuộc tầng lớp bình dân lại có vẻ bình thản trước nó hơn nhiều khi so với những người khác?
Tôi thực sự tin rằng chính những dáng vẻ và nghi thức kinh khủng mà chúng ta bày ra quanh cái chết mới làm chúng ta sợ hãi hơn chính cái chết.
Một cách sống hoàn toàn mới; tiếng khóc của các bà mẹ, người vợ và con cái; những người đến thăm trong nổi kinh hoàng và khiếp đảm; sự túc trực của đám gia nhân xanh xao và đẫm lệ; một căn phòng thiếu ánh sáng; những ngọn nến được thắp lên; đầu giường bị vây quanh bởi các bác sĩ và những linh mục; tóm lại, tất cả nỗi kinh hoàng và khiếp đảm bao quanh chúng ta.
Thế là chúng ta đã như bị khâm liệm và chôn cất từ trước. Trẻ con sợ chính những người bạn của mình khi nhìn thấy bọ họ đeo mặt nạ; chúng ta cũng vậy. Phải gỡ bỏ chiếc mặt nạ khỏi mọi sự vật cũng như khỏi con người. Khi chiếc mặt nạ được gỡ xuống, chúng ta sẽ không tìm thấy bên dưới nó điều gì khác ngoài chính cái chết ấy – thứ mà mới đây một người giúp việc bình thường, nam hay nữ, đã đi qua mà chẳng hề sợ hãi.
Hạnh phúc thay cái chết nào tước khỏi ta thời gian dành cho những nghi thức chuẩn bị rườm rà như thế!