Joseph E. Stiglitz
Đỗ Kim Thêm dịch

Nguồn ảnh: Christophe Gateaupicture alliance via Getty Images
Để giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu và phần còn lại của Chương trình Nghị sự về Phát triển Bền vững, chúng ta phải làm nhiều hơn nữa để tăng cường doanh thu của các thị trường mới trỗi dậy và các nước đang phát triển, để họ có thể thực hiện các khoản đầu tư cần thiết. Tuy nhiên, khi vấn đề đang diễn ra, các thỏa thuận thương mại và tài chính quốc tế đang áp đảo chống lại mục tiêu này.
Sau các cuộc họp thương niên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) trong tháng này,Trung Đông đang đứng trước bờ vực của một cuộc xung đột quan trọng, và các nơi khác còn lại trên thế giới tiếp tục rạn nứt theo các ranh giới mới về kinh tế và địa chính trị. Hiếm khi mà những khiếm khuyết của các nhà lãnh đạo thế giới và các sắp xếp thể chế hiện tại lại rõ ràng như vậy. Cơ quan quản lý của của Quỹ Tiền tệ Quốc tế thậm chí còn không thể đồng thuận về một thông cáo chung quyết.
Đúng vậy, Ngân hàng Thế giới, dưới sự lãnh đạo mới, đã cam kết giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu, các thách thức về tăng trưởng và tăng cường các chính sách chống đói nghèo. Ngân hàng nhằm mục đích đẩy mạnh việc cho vay bằng cách tận dụng vốn hiện có và bằng cách huy động các quỹ mới. Tuy nhiên, đối với trường hợp các quỹ mới, vấn đề này sẽ cần sự chấp thuận của Quốc hội Hoa Kỳ, và điều đó dường như khó xảy ra với việc đảng Cộng hòa đang kiểm soát Hạ viện. Điều quan trọng là kế hoạch tăng khả năng cho vay không đáp ứng được những gì thế giới cần đến. Nó chỉ là một giọt nước trên viên đá nóng bỏng, không thắm vào đâu.
Cũng như về các cuộc thảo luận khí hậu trong khuôn khổ của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc vào tháng Chín, đã có nhiều cuộc dàm phán về việc mở rộng quy mô vốn tư nhân bằng cách giảm phí bảo hiểm rủi ro mà các nhà đầu tư yêu cầu đối với các dự án ở các nước nghèo. Mặc dù lợi nhuận xã hội khi đầu tư vào năng lượng mặt trời ở vùng Sub Sahara châu Phi (nơi có ánh nắng mặt trời dồi dào và thiếu năng lượng) cao hơn ở phía bắc có nhiều mây, khu vực tư nhân đã miễn cưỡng tham gia, vì do lo ngại về sự bất ổn kinh tế và chính trị.
Kết quả của tất cả các cuộc thảo luận về việc „giảm rủi ro“ này là khu vực công phải cung cấp bất kỳ khoản trợ cấp nào cần thiết để „gây thúc ép“ khu vực tư nhân. Không có gì ngạc nhiên khi các doanh nghiệp tài chính tư nhân lớn đang tụ họp xung quanh các cuộc họp quốc tế này. Họ sẵn sàng kiếm ăn từ khu vực công ít có lợi, hy vọng là các thỏa thuận mới sẽ tư nhân hóa các doanh thu trong khi xã hội hóa những tổn thất, như „mối quan hệ đối tác công tư“ trong quá khứ đã thực hiện.
Nhưng tại sao chúng ta nên mong đợi là khu vực tư nhân sẽ giải quyết vấn đề tiện ích công cộng dài hạn như biến đổi khí hậu? Khu vực tư nhân nổi tiếng là thiển cận, tập trung hoàn toàn vào các lợi ích riêng tư, mà không phải là lợi ích của xã hội. Khu vực tư đã tràn ngập thanh khoản trong 15 năm qua, nhờ vào các ngân hàng trung ương bơm một số lượng tiền khổng lồ vào nền kinh tế để đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 (mà khu vực tư nhân gây ra) và đại dịch COVID-19. Kết quả là một tiến trình vòng vo, theo đó các ngân hàng trung ương cho các ngân hàng thương mại vay, rồi cho các doanh nghiệp tư nhân phương Tây vay, sau đó cho chính phủ nước ngoài hoặc các doanh nghiệp đầu tư cơ sở hạ tầng vay, với chi phí giao dịch và bảo lãnh của chính phủ chồng chất trong việc tiến hành.
Sẽ tốt hơn nhiều nếu sử dụng thanh khoản để củng cố các ngân hàng phát triển đa phương (multilateral development banks, MDB), mà nó đã phát triển các năng lực đặc biệt trong các lĩnh vực liên quan. Mặc dù MDB đôi khi hành động chậm chạp, nhưng phần lớn là do họ có nghĩa vụ bảo vệ môi trường và duy trì quyền của người dân. Đứng trước việc biến đổi khí hậu là một thách thức lâu dài, tốt hơn là đầu tư khí hậu nên được thực hiện một cách khôn ngoan và ở quy mô lớn.
Khi đạt được quy mô lớn, chìa khóa không chỉ là huy động nhiều tiền hơn bằng cách vay từ các nước giàu, với tất cả các vấn đề quen thuộc kéo theo; đó là để tăng cường doanh thu của các thị trường mới trỗi dậy và các nước đang phát triển. Tuy nhiên, các thỏa thuận quốc tế hiện tại đang ngăn chặn một cách có hiệu quả mệnh lệnh cấp bách này.
Hãy xét đến chương trình hành động của OECD trong khuôn khổ xói mòn cơ sở và chuyển dịch lợi nhuận (Base Erosion and Profit Shifting, BEPS). Hy vọng là BEPS sẽ khiến các tập đoàn giàu có trả phần thuế công bằng của họ ở các quốc gia nơi mà họ hoạt động. „Hệ thống giá chuyển nhượng“ hiện hành mang lại cho các doanh nghiệp đa quốc gia một tự do to lớn để xem xét gởi báo cáo lợi nhuận cho bất kỳ nước nào mà họ thích xem là có lợi về đóng thuế hơn. Nhưng các cải cách BEPS được đề xuất,, ngay cả khi được thông qua toàn diện, điều này dường như không thể xảy ra, dường như có hiệu quả hạn chế và sẽ cung cấp cho các nước đang phát triển nguồn thu bổ sung bị hạn chế ở mức cao nhất. Tệ hơn nữa, tiến trình giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và nhà nước mà nó cho phép các doanh nghiệp đa quốc gia kiện chính phủ khi thay đổi quy định có thể gây tổn hại đến lợi nhuận, nó đã hạn chế hơn nữa các nguồn lực khả dụng cho các thị trường mới trỗi dậy và các nước đang phát triển, ngay cả khi nó cản trở các nỗ lực của họ để ứng phó với các thách thức về môi trường và sức khỏe.
Sau đó là chế dộ liên quan đến khíc cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Trade-Related Aspects of Intellectual Property Rights, TRIPS) của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nó dẫn đến việc phân biệt chủng tộc trong vấn đề vắc xin và tử vong, nhập viện và bệnh tật không cần thiết ở các nước đang phát triển trong trận đại dịch (tiếp tục tăng chi tiêu và giảm doanh thu). Và TRIPS được thiết kế để bơm đầy két bạc của các doanh nghiệp đa quốc gia giàu có bằng tiền bản quyền sở hữu trí tuệ từ các nước đang phát triển trong tương lai. Thực ra, cấu trúc toàn bộ của các hiệp định thương mại đã bảo tồn các mô hình thương mại của thời thuộc địa mới, với các nước đang phát triển bị mắc kẹt sản xuất hầu hết các thương phẩm chính, trong khi các nước phát triển thống trị các liên kết có giá trị gia tăng cao trong chuỗi sản xuất toàn cầu.
Tất cả những thoả thuận đầy thiếu sót này có thể và phải được thay đổi. Khi làm như vậy sẽ cung cấp cho các nước đang phát triển các nguồn lực cần thiết để đầu tư vào giảm thiểu và thích ứng với việc biến đổi khí hậu, y tế công cộng và phần còn lại của các Mục tiêu Phát triển Bền vững. Có lẽ việc cải tiến quan trọng nhất đối với cấu trúc tài chính toàn cầu sẽ là việc phát hành hàng năm, ví dụ, 300 tỷ đô la quyền rút vốn đặc biệt (special drawing rights SDR, tài sản dự trữ quốc tế của IMF), mà nó có thể „in“ theo ý muốn nếu các nền kinh tế tiên tiến đồng ý. Hiện tại, phần lớn các đợt phát hành SDR được chuyển đến các nước giàu („cổ đông“ lớn nhất của IMF) mà họ không cần tiền, trong khi các nước đang phát triển có thể sử dụng chúng để đầu tư vào tương lai hoặc trả nợ (bao gồm cả IMF).
Đó là lý do tại sao các nước giàu nên thay đổi SDR của họ bằng cách biến chúng thành các khoản vay hoặc trợ cấp cho các khoản đầu tư khí hậu ở các nước đang phát triển. Mặc dù vấn đề này đã được thực hiện ở một mức độ hạn chế thông qua Quỹ tín thác khà năng phục hồi và bền vững (Resilience and Sustainability Trust) của IMF, nhưng nó có thể được nhân rộng theo quy mô lớn và tái thiết kế để đạt được một tiếng vang lớn hơn. Phần tốt nhất về phương cách này là nó không thực sự khiến các nền kinh tế tiên tốn kém bất cứ chi phí nào. Trừ khi người ta mang ơn một ý thức hệ sai lầm nào đó, không có lý do gì để chống lại vấn đề này.
Ngay cả khi các nền kinh tế tiên tiến đạt mức phát khí thải ròng bằng 0 trong tương lai, chúng ta vẫn sẽ phải chịu số phận bi quan, bởi vì lượng khí thải ở các nước đang phát triển sẽ tiếp tục tăng. Trong khi cung cấp cho khu vực tư nhân những ưu đãi tốt hơn (một uyển ngữ cho việc trả tiền hối lộ) đã được thảo luận kỹ lưỡng, rất ít tiến bộ đã được thực hiện, và thuế quan và các hạn chế khác đối với hàng hóa nhập khẩu có hại cho môi trường, chẳng hạn như những gì châu Âu hiện đang áp đặt và đe dọa tăng trong tương lai, mà nó không có khả năng gợi ra loại hợp tác cần thiết.
Do đó, chiến lược tốt nhất, và có lẽ là duy nhất, để đảm bảo cho các nước đang phát triển và thị trường mới trỗi dậy làm những gì họ phải làm nếu chúng ta muốn ngăn chặn thảm họa khí hậu là bắt đầu khắc phục một số bất công toàn cầu trong quá khứ và tạo thêm thu nhập và phương tiện tài trợ hợp lý cho các nước đang phát triển.
***
Joseph E. Stiglitz đoạt giải Nobel kinh té, Giáo sư Đại học Columbia, Cựu kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới (1997-2000), Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Kinh tế của Tổng thống Hoa Kỳ và đồng chủ tịch Ủy ban Cấp cao về Giá Carbon, Đồng Chủ tịch của Ủy ban độc lập về cải cách thuế doanh nghiệp quốc tế và là tác giả chính của Đánh giá khí hậu IPCC năm 1995.