Đỗ Kim Thêm dịch

Một lần nữa, Tổng thống Donald Trump đang phá hoại luật quốc gia và quốc tế trong một nỗ lực nhằm chiếm đoạt một phần lớn hơn trong chuỗi giá trị và cung ứng toàn cầu, đồng thời gây tổn hại cho nền kinh tế Mỹ trong tiến trình. Bao lâu mà các doanh nghiệp và chính phủ khác tránh đứng lên để chống lại ông, thì thảm họa đang chờ đợi tất cả chúng ta càng lớn hơn.
Ông lại bắt đầu nữa. Tổng thống Mỹ Donald Trump đang tăng và giảm thuế một cách tùy tiện, vi phạm các thỏa thuận quốc tế mà chính ông đã ký và gần như chắc chắn vi phạm luật liên bang. Điểm khác biệt duy nhất trong lần này là ông ta có một cái cớ mới để lạm dụng thuế quan: chấm dứt lao động cưỡng bức.
Tất nhiên, chính quyền chính đáng khi cho rằng về vấn đề lao động cưỡng bức đang không được giải quyết. Nhưng mối quan ngại được nêu ra chỉ là một trò lừa. Với các mức thuế mới đang bám sát những mức thuế mà Trump áp đặt dựa trên cán cân thương mại, liệu chúng ta có nên tin rằng tình trạng thâm hụt thương mại song phương lại có mối tương quan cao với việc sử dụng lao động cưỡng bức không?
Sau khi Tối cao Pháp viện bải bỏ các mức thuế trước đây của Trump, chính quyền đã áp đặt các mức thuế tạm thời 150 ngày—vốn đã bị tòa án coi là bất hợp pháp nhưng vẫn đang được kháng cáo ngay cả khi hết hạn vào cuối tháng Bảy—và hiện nay các mức thuế mới này được áp dụng sau một „cuộc điều tra“ về việc các quốc gia khác bị cho là không kiểm soát các hành vi lạm dụng lao động. Không ngạc nhiên gì khi thấy Trung Quốc, vốn lâu nay bị nghi ngờ là nguồn hàng hóa sản xuất bằng lao động cưỡng bức, phần lớn đã được bỏ qua. Với việc kiểm soát đất hiếm và khoáng sản quan trọng, Trung Quốc có thể hạ gục Trump bất cứ khi nào họ muốn. Khi một quốc gia khác có đủ phương tiện và sẵn sàng chốn trả, Trump luôn nhát gan (TACO). Lần này, thậm chíTrumo còn không thèm gây sự với người Hoa.
Hơn nữa, nếu Trump thực sự lo ngại về tình trạng lao động cưỡng bức, ông sẽ giải quyết vấn đề này ngay trong nước. Rốt cuộc, nước Mỹ từ lâu đã là trung tâm của lao động cưỡng bức, do kẽ hở trong Tu chính án thứ 13 của Hiến pháp Hoa Kỳ: „Không chế độ nô lệ hay lao động cưỡng bức, trừ khi là hình phạt cho tội phạm mà một bên đã bị kết án hợp lệ, sẽ tồn tại trong Hoa Kỳ, hoặc bất kỳ nơi nào thuộc thẩm quyền tài phán của họ.“
Ngôn ngữ này từng được sử dụng nổi tiếng ở miền Nam trong thời kỳ Jim Crow để bảo vệ việc sử dụng các băng nhóm, và nó vẫn tiếp tục bị lạm dụng trên nhiều nơi ở Mỹ, với chưa đến một phần tư các tiểu bang cấm lao động cưỡng bức. Mỹ chỉ có 5% dân số thế giới nhưng lại chiếm một phần tư số tù nhân trên thế giới. Theo một trong những nghiên cứu kỹ lưỡng nhất về tình trạng lao động cưỡng bức ở Mỹ của Michael Poyker , gần 1, 4 triêu tù nhân Mỹ đã được tuyển dụng vào năm 2005, trong đó khoảng 600.000 người làm việc chuyên ngành sản xuất—chiếm 4,2% tổng lực lượng lao động sản xuất vào thời điểm đó. (Những ai muốn hiểu rõ hơn về hệ thống lao động bị giam cầm của Mỹ cũng nên xem bộ phim tài liệu năm 2016 của Ava DuVernay, phần 13)
Khi Trump vô tình áp thuế lên phần còn lại của thế giới vào năm ngoái, ông mô tả động thái này là „hỗ tương.“ Nhưng trong bối cảnh mới này, nguyên tắc đối ứng sẽ đòi hỏi áp thuế cao đối với các sản phẩm sản xuất tại các tiểu bang của Mỹ mà vẫn còn bóc lột lao động tù nhân.
Các mức thuế mới đối với Liên minh châu Âu đặc biệt khó biện minh, bởi vì luật EU năm 2024 (the Corporate Sustainability Due Diligence Directive) đã cấm nhập khẩu hàng hóa sản xuất bằng lao động cưỡng bức, bao gồm cả hàng hóa do các nhà thầu phụ sản xuất. Trong một viên ngọc của tình trạng đạo đức giả khác, Bộ trưởng Thương mại Mỹ Howard Lutnick từng cáo buộc rằng luật EU đặt ra „gánh nặng tiêu cực không cần thiết“ lên các doanh nghiệp Mỹ, và do đó Mỹ sẵn sàng cân nhắc „mọi công cụ thương mại có thể hình dung.“
EU nên lên tiếng lên tiếng về tinh thần đạo đức giả này và không nên đầu hàng. EU nên áp thuế đối ứng đối với hàng hóa sản xuất tại các tiểu bang của Mỹ sử dụng lao động tù nhân nhiều nhất. Danh sách các hàng hóa và doanh nghiệp được cho là sử dụng lao động tù nhân trong chuỗi cung ứng rất dài, bao gồm các doanh nghiệp hàng đầu của Mỹ như Burger King, Cargill và Walmart. Nếu các hành động của Trump nhằm thúc đẩy EU điều tra lao động cưỡng bức ở Mỹ, điều đó sẽ mang lại lợi ích cho giới lao động Mỹ. (Đáng buồn thay, hầu như không ai trong EU lên tiếng về vấn đề này; tất cả những gì chúng ta nghe được chỉ là một tiếng thở phào nhẹ nhõm rằng châu Âu không bị ảnh hưởng nặng nề hơn.)
Sự đạo đức giả cũng chưa dừng lại ở đó. Để biện minh cho việc áp thuế mới đối với Canada, Trump viện dẫn một điều khoản của Đạo luật Thuế quan Smoot-Hawley nổi tiếng năm 1930 cho phép Mỹ phản ứng với các mức thuế phân biệt đối xử. Nhưng hãy nhớ rằng toàn bộ hệ thống Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) dựa trên nguyên tắc không phân biệt đối xử, một nguyên tắc mà chính sách thuế quan của Trump đã trắng trợn vi phạm. Trong trường hợp này, Canada đã áp thuế lên hàng hóa Mỹ để trả đũa các mức thuế phân biệt đối xử của Trump.
Một lần nữa, Trump đang phá hoại luật pháp quốc tế nhằm chiếm đoạt phần lớn giá trị tích hợp trong chuỗi cung ứng toàn cầu, đồng thời gây tổn hại cho nền kinh tế Mỹ trong tiến trình. Đừng ai quên, thuế quan chỉ là một loại thuế méo mó gây thiệt hại cho người tiêu dùng Mỹ và khả năng cạnh tranh của Mỹ.
Các cuộc chiến thuế quan của Trump không dẫn đến việc tái xuất sản xuất. Thực tế, việc làm trong ngành sản xuất ở Mỹ đã giảm 75.000 việc làm kể từ khi ông nhậm chức trong nhiệm kỳ thứ hai, sau khi tăng dưới thời Tổng thống Joe Biden. Về mặt danh nghĩa, tình trạng thâm hụt thương mại hàng hóa của Mỹ thực tế đã tăng lên trong nhiệm kỳ thứ hai của Trump, đạt mức cao kỷ lục 1, 24 nghìn tỷ đô la. Điều đó không gây ngạc nhiên cho bất kỳ nhà kinh tế nào. Thâm hụt thương mại đa phương phụ thuộc ít vào thuế quan mà phụ thuộc vào các biến số kinh tế vĩ mô then chốt như tiết kiệm quốc gia trong nước, một chỉ số mà thâm hụt tài khóa phá kỷ lục của Trump đã làm suy yếu.
Trump thoát tội bắt nạt vì quá nhiều người trong và ngoài nước, đã đầu hàng ông. Hầu hết các doanh nghiệp và chính phủ đối thủ đều kết luận rằng tốt hơn là thuận thảo với ông hơn là đứng lên để bảo vệ bản thân. Nhưng Trump cũng giống như bất kỳ nhà lãnh đạo độc tài nào khác: ông ta cần được sợ hãi. Càng lâu mà thế giới cho Trump những gì Trump cần, thảm họa đang chờ đợi tất cả chúng ta càng lớn.
***
Joseph E. Stiglitz đoạt giải Nobel kinh tế, Giáo sư Đại học Columbia, Cựu Kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới (1997-2000), Cựu Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Kinh tế của Tổng thống Hoa Kỳ, và gần đây nhất, là tác giả của cuốn The Road to Freedom: Economics and the Good Society, do NXB W. W. Norton & Company, Allen Lane ấn hành năm 2024.
Der Beitrag von Joseph E. Stiglitz wirft eine zentrale Frage der internationalen Wirtschaftsordnung auf: Unter welchen Voraussetzungen dürfen Staaten handelspolitische Maßnahmen ergreifen, ohne die Grundlagen einer regelbasierten Weltwirtschaft zu untergraben? Juristisch sind einseitige Zölle am Maßstab des WTO-Rechts, insbesondere des Allgemeinen Zoll- und Handelsabkommens (GATT 1994), sowie der jeweiligen nationalen Verfassungs- und Gesetzesgrundlagen zu prüfen. Ausnahmen aus Gründen der nationalen Sicherheit oder des Schutzes fundamentaler Menschenrechte sind zwar vorgesehen, bedürfen jedoch einer nachvollziehbaren, verhältnismäßigen und rechtsstaatlich überprüfbaren Begründung.
Wirtschaftswissenschaftlich besteht ein breiter Konsens, dass Zölle kurzfristig einzelne Branchen schützen können, langfristig jedoch häufig zu Wohlfahrtsverlusten, steigenden Verbraucherpreisen, sinkender Produktivität sowie Handelsumlenkungen führen. Nobelpreisträger wie Paul Krugman, Jagdish Bhagwati, Douglas Irwin und Joseph E. Stiglitz haben – bei unterschiedlichen politischen Bewertungen – wiederholt darauf hingewiesen, dass dauerhafter Wohlstand vor allem auf Rechtssicherheit, Innovation, Investitionen, Wettbewerb und internationaler Kooperation beruht, nicht auf Eskalationsspiralen im Handel.
Ebenso gilt das Verbot der Zwangsarbeit als universelle Norm des internationalen Rechts. Die Übereinkommen Nr. 29 und Nr. 105 der Internationalen Arbeitsorganisation (ILO), der Internationale Pakt über bürgerliche und politische Rechte sowie die Allgemeine Erklärung der Menschenrechte verpflichten alle Staaten gleichermaßen. Daraus folgt ein rechtsstaatlicher Grundsatz: Menschenrechte dürfen weder selektiv noch geopolitisch instrumentalisiert werden, sondern müssen universell und ohne doppelte Standards angewendet werden.
Historisch zeigen der Smoot-Hawley Tariff Act von 1930 ebenso wie zahlreiche Handelskonflikte der Nachkriegszeit, dass protektionistische Maßnahmen selten nachhaltige Gewinner hervorbringen. Mathematisch betrachtet handelt es sich häufig um ein Negativsummenspiel: Die gesamtwirtschaftlichen Kosten einer Eskalation übersteigen langfristig die kurzfristigen Vorteile einzelner Marktteilnehmer.
Eine stabile Weltwirtschaft benötigt deshalb keine Politik der Macht, sondern die Verlässlichkeit des Rechts, transparente Institutionen und gegenseitiges Vertrauen. Gerade in einer geopolitisch angespannten Welt bleibt die Bindung an das Völkerrecht, an überprüfbare Fakten und an die gleiche Würde jedes Menschen die tragfähigste Grundlage für Frieden und nachhaltigen Wohlstand.
LikeLike
„Mit Unterstützung von KI erstellt und redaktionell überprüft.“
LikeLike