Barbara Zehnpfennig
Đỗ Kim Thêm dịch

Khoảng 250 năm trước, không ai có thể đoán được rằng Hiến pháp mới của Mỹ, vốn đang gây tranh cãi gay gắt vào thời điểm đó, sẽ tồn tại trong nhiều thế kỷ. Và chỉ có rất ít người tin rằng các nỗi sợ hãi mà nhiều người phản đối Hiến pháp vào lúc đó có thể sau này trở thành sự thật. Cho đến nay, lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã được xem như một sự xác nhận về thành công to tát mà Hiến pháp dân chủ đầu tiên trong thời hiện đại đại diện trong lịch sử thế giới. Nhưng kể từ nhiệm kỳ tổng thống của Donald Trump, nhiều phản đối đã được đưa ra trong thế kỷ 18. thế kỷ chống lại Hiến pháp, một lần nữa lại mang tính thời sự một cách đáng ngạc nhiên. Federalist Papers (Hồ sơ Liên bang), tài liệu duy nhất để sáng lập cho nền dân chủ tự do hiện đại không chỉ phản ánh cuộc tranh luận giữa hai giới phản đối và ủng hộ Hiến pháp, mà còn quyết định cho vịệc ủng hộ cho Hiến pháp bằng những lập luận mạnh mẽ .
Bối cảnh
Điều gì dẫn đến Bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ vào năm 1776 đã được nhiều người biết đến: mười ba thuộc địa của Anh ở Mỹ cảm thấy bị Mẩu quốc quấy rối; họ không muốn chia sẻ chi phí của Chiến tranh Bảy năm (1756–1763) giữa Anh và Pháp, cũng đã diễn ra ở Mỹ, và họ không muốn bị đánh thuế mà họ không có đại diện tại Quốc hội Anh. Tình trạng này dẫn đến một cuộc nổi dậy chống lại Mẩu quốc, gây ra một cuộc chiến kéo dài tám năm vào năm 1775. Năm 1776, những người định cư tuyên bố ly khai ra khỏi Vương quốc Anh, nhưng phải đến năm 1783, với sự giúp đỡ của Pháp, họ mới đạt được mục tiêu cuối cùng là Vương quốc Anh công nhận nền độc lập của các cựu thuộc địa.
Nhưng tình hình hậu chiến đã trở nên căng thẳng. Chừng nào mà họ còn hành động chống lại một kẻ thù chung, mười ba tiểu bang đã phản ứng tương đối đoàn kết. Tuy nhiên, sau khi giành được độc lập, sự hợp tác của họ nhanh chóng bị cản trở một lần nữa bởi tinh thần vị kỷ của từng tiểu bang. Ví dụ như các điểm xung đột là phân phối công bằng về gánh nặng chiến tranh, các vấn đề phát hành tiền giấy gây ra tình trạng lạm phát của một số tiểu bang, các yêu sách về tranh chấp lãnh thổ và còn nhiều chuyện khác nữa. Kể từ khi tuyên bố độc lập, đã có một cuộc đấu tranh cho một loại Hiến pháp chung cho mười ba tiểu bang, và Nghị hội Lục địa, một hình thức đại diện chung của các tiểu bang, đã đệ trình một đạo luật liên bang để quy định về sự hợp tác chung. Nhưng những thỏa hiệp được tìm thấy trong dự thảo luật đã vấp phải sự phản đối của một số tiểu bang, và việc phê chuẩn đã bị trì hoãn. Cuối cùng, năm 1781, Maryland là tiểu bang ký kết sau chót, nó đánh dấu một sự hợp nhất không gì khác hơn là một Liên minh các quốc gia có chủ quyền. Với kết quả này còn quá nhiều vấn đề dự trù sắp xảy ra.
Liên minh để cho các tiểu bang có chủ quyền của họ không giới hạn, và Nghi hội của Liên minh chỉ đơn thuần là một loại hội đồng gồm các đại sứ, mà trong đó mỗi tiểu bang có một phiếu bầu. Không có một cơ quan Hành pháp cũng như Tư pháp chung, Liên minh không thể đánh thuế và buộc chi xuất các khoản thanh toán chung đã được chung quyết. Trong cuộc chiến giành độc lập, tất cả đã có vấn đề, nhưng được chứng minh là một cấu trúc hoàn toàn không phù hợp cho tương lai chung, đó là lý do tại sao phải quyết định sửa đổi quy chế.
Tuy nhiên, có một sự ngạc nhiên to lớn khi hội đồng được triệu tập tại Philadelphia vào năm 1787 không phải là tu chỉnh một đạo luật, mà là đề ra một Hiến pháp hoàn toàn mới, cũng cải biến hình thức Liên minh trước đó thành một quốc gia liên bang. Điều này có nghĩa là chủ quyền quốc gia của các tiểu bang riêng biệt mất đi rõ ràng và một sự thay đổi quyết định về chuyển giao thẩm quyền cho Liên bang. Không có gì ngạc nhiên khi một cuộc tranh luận gay gắt đã bùng nổ giữa các người dân của Liên minh về việc liệu một cam kết táo bạo như vậy có thực sự nên được thực hiện hay không. Họ có muốn sự liên kết về hình thức của chính phủ mới trong nền dân chủ đại nghị, mà lần đầu tiên được thử nghiệm ở Mỹ, với một thử nghiệm khác, một chính phủ thống nhất ở một quốc gia rộng lớn? Phải chăng có một mối đe dọa tái phát những hình thức cai trị quân chủ hoặc quý tộc trên Lục địa già với lý do chính đáng sao?
Đây là nơi mà một tập tài liệu chung được gọi là Hồ sơ Liên bang (Federalist Papers) ra đời. Trong đó ba tác giả Alexander Hamilton, James Madison và John Jay đứng về phía Hiến pháp, họ giải thích về ý nghĩa và cơ chế vận hành của nó trong khi cố gắng truyền cảm hứng cho đồng bào để chấp nhận.
Một cuốn sách mà không phải là sách
Ba tác giả đã kết hợp những khả năng hiếm có: họ được giáo dục và tạo ra lập luận đúc kết từ các nguồn tài liệu phong phú trong lịch sử văn hoá châu Âu. Họ là những người có tinh thần thực dụng, biết sinh hoạt chính trị không chỉ đến từ sách vở.
Alexander Hamilton là người nổi tiếng nhất trong nhóm này, ông từng là sĩ quan phụ tá của George Washington trong cuộc chiến giành độc lập. Những nỗ lực của ông và của đồng tác giả sau này là James Madison đã dẫn đến việc triệu tập Nghị hội Philadelphia, nơi mà bản thân ông đóng một vai trò quan trọng trong việc phác thảo cụ thể của Hiến pháp. Khi trở thành tổng thống đầu tiên của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Washington đã bổ nhiệm Hamilton làm Bộ trưởng Tài chính. Với những cải cách tài chính, Hamilton đã thiết lập lộ trình cho một nước Mỹ hiện đại và thịnh vượng kinh tế. Bạn đồng sự của Hamilton là James Madison, người được bầu làm tổng thống thứ tư của Hoa Kỳ vào năm 1809, đã đạt được một vị trí thậm chí còn quan trọng hơn. Madison đã tham gia soạn thảo Bản Tuyên ngôn về Quyền Cơ bản đầu tiên của kỷ nguyên hiện đại và Bản Tuyên ngôn Nhân quyền Virginia năm 1776, và đưa ra quyết định cuối cùng về „Kế hoạch Virginia“ trong Nghị hội nghị Lập Hiến – nhưng sau đó trở thành đối thủ chính trị của Hamilton. John Jay làm việc như một nhà ngoại giao trong cuộc chiến giành độc lập, sau trở thành Chủ tịch Quốc hội Lục địa năm 1778, và là người đồng ký kết Hiệp ước Paris, kết thúc cuộc chiến giành độc lập. Ông trở thành đồng tác giả của Hồ sơ Liên bang, mặc dù ông không đích thân tham gia vào Nghị hội Lập Hiến, nhưng đã có thể đóng góp kinh nghiệm về chính sách đối ngoại của mình. Từ năm 1784 đến năm 1790, ông là Ngoại trưởng Hoa Kỳ.
Tại sao công trình mà ba tác giả cùng tạo ra được gọi là Hồ sơ Liên bang, là điều thể hiện rõ ràng. Tài liệu bao gồm 85 bài báo được xuất bản trên ba tờ báo khác nhau ở New York vào năm 1787/88 và sau đó chỉ được tóm tắt dưới dạng sách. Thật mà khó để tin rằng trong một khoảng thời gian ngắn, các tác giả đã viết được các bài bình luận về Hiến pháp, mà nó có nội dung súc tích và với cấu trúc có hệ thống như vậy. Điều đáng ngạc nhiên không kém là dường như họ có đủ độc giả để đọc bài mà nó một đòi hỏi trình độ cao này. Tuy nhiên, cũng có rất nhiều thứ đang bị đe dọa, cụ thể là tương lai của Hiệp Chủng quốc Hoa Kỳ. Những điều này sẽ được người dân định đoạt thông qua các Nghị hội Lập Hiến được từng tiểu bang riêng biệt thành lập. Do đó, mỗi tiểu bang tự quyết định xem liệu họ có muốn đồng ý với Hiến pháp không. Ngay sau khi chín trong số mười ba tiểu bang đã ký kết, Hiến pháp mới sẽ có hiệu lực. Đến năm 1789, tất cả mười ba tiểu bang đã ký. Nhưng trước đó, cần thực hiện rất nhiều công việc thuyết phục, và ba tác giả đã nỗ lực hết sức để thuyết phục người dân của tiểu bang New York chấp nhận Hiến pháp
Trật tự mới
Ngay khi bắt đầu công trình, các tác giả đã nói rõ rằng việc phê chuẩn Hiến pháp liên bang sẽ không chỉ thành lập một quốc gia mới. Đúng hơn, cùng với vấn đề này, Hiến pháp cũng sẽ quyết định một vấn đề có tầm quan trọng cho lịch sử thế giới, cụ thể là „liệu các cộng đồng nhận loại thực sự có khả năng thiết lập một trật tự chính trị tốt đẹp trên cơ sở cân nhắc hợp lý và tự do lựa chọn không, hay liệu họ có bị kết án mãi mãi là phụ thuộc vào cơ hội và vũ lực để quyết định cho Hiến pháp chính trị của họ không“. Ở đây, lần đầu tiên trong lịch sử, một dân tộc có thể tự quyết cho mình một bản Hiến pháp, và Hiến pháp khiến cho người dân trở thành là người giữ quyền lực nhà nước. Bằng cách trình bày quyết định sắp tới như một quyết định xuất sắc của „nhân loại“, những người theo chủ thuyết Liên bang đã kêu gọi cả hai niềm tự hào và tinh thần trách nhiệm của đồng bào. Cuối cùng, họ đã làm như vậy thành công.
Trước khi chuyển sang bình luận thực tế về Hiến pháp, các tác giả đã dẫn nó đến trong ba bước lập luận. Thứ nhất, điều quan trọng cho người Mỹ trong việc sống còn là phải bảo vệ Liên minh các quốc gia châu Mỹ trong các chính sách đối nội và đối ngoại. Thứ hai, tuy nhiên, liên kết trong hiện tại không có khả năng bảo vệ Liên minh. Thứ ba, và đó là lý do tại sao chỉ có một chính phủ trung ương kiên quyết hành động mới có thể bảo vệ được Liên minh. Bình luận trực tiếp về Hiến pháp lúc đó cho thấy rằng chính phủ có khả năng quyết định mạnh bạo này vẫn hoàn toàn theo thể chế Cộng hòa, hoặc theo cách nói ngày nay là thể chế dân chủ, bất cứ điều gì mà giới phản đối Hiến pháp muốn luôn lên tiếng. Bởi vì đó là điểm chính của tất cả những nỗi sợ hãi liên quan đến Hiến pháp mới, khi Hiến pháp mới được thiết lập, một trật tự thành hình có thể quá xa rời người dân và tạo ra các cấu trúc quyền lực chỉ có lợi cho giới tinh hoa. Đó là nỗi sợ hãi khi quyền lực có thể thoát ra khỏi tay người dân để làm lôi cho vị một tổng thống bán quân chủ và một tầng lớp xã hội có thế mạnh về kinh tế.
Các điểm chính của Hiến pháp
Hiến pháp Hoa Kỳ thiết lập một trật tự liên bang, một sự phân quyền giữa chính phủ liên bang và các tiểu bang. Thực tế là những người ủng hộ một quyền lực liên bang mạnh mẽ đã đảm bảo với cái tên „Federalist, những người theo chủ thuyết Liên bang“, trong khi đó giới chỉ trích Hiến pháp kêu gọi việc trung ương tản quyền chỉ có tên “ Anti – Federalist, những người chống chủ thuyết Liên bang“, là một bước đi khôn ngoan, nhưng vẫn gây ra sự nhầm lẫn trong cách diễn ngôn giữa các nước thuộc Anglo-Saxon và không phải Anglo-Saxon. Đối với người Anglo-Saxon, chủ thuyết liên bang là hình ảnh thu nhỏ của việc củng cố quyền lực trung ương, nhưng đối với người không phải Anglo-Saxon, thì chủ thuyết liên bang có nghĩa là ngược lại.
Trong Hồ sơ Liên bang, các tác giả đã giải thích rằng những quyền lực mà Hiến pháp là hợp lý khi đặt đúng ở cấp liên bang, chẳng hạn như đảm bảo hình thức nhà nước dân chủ, quy định các mối quan hệ quốc tế và ngăn chặn các nạn ngoại xâm. Tuy nhiên, hai nguyên tắc Hiến pháp đòi hỏi sự bảo vệ đặc biệt vì chúng cũng bị tấn công dữ dội: nguyên tắc biến Hiến pháp và các luật và hiệp ước được chính phủ liên bang thông qua trở thành luật tối cao của đất nước, và điều khoản „cần thiết và thích hợp“.
Về điểm thứ nhất, vị trí vượt trội rõ ràng của luật liên bang so với luật của từng tiểu bang, lập luận là rõ ràng: Nếu từng tiểu bang cân nhắc việc chấp nhận hoặc từ chối những luật nào của liên bang, thì Liên minh sẽ nhanh chóng kết thúc, đặc biệt là vì lợi ích của các tiểu bang quá khác nhau đến nỗi mà những mâu thuẫn giữa các tiểu bang sẽ lại một lần nữa phát huy tác động.
Về điểm thứ hai – để công nhận quyền của Liên bang ban hành tất cả các luật „cần thiết và thích hợp“ cho việc hành sử quyền lực của mình – những người theo chủ thuyết Liên bang lập luận rằng hiểu nguyên tắc này thực sự là điều hiển nhiên. Ví dụ như những ai có quyền đánh thuế cũng phải có khả năng đưa ra các luật cần thiết. Cuối cùng, và những người theo chủ thuyết Liên bang liên tục sử dụng lập luận này, các cử tri có thể can thiệp và bỏ phiếu bải chức chính phủ liên bang trong trường hợp tiếm quyền. Ngoài ra, còn nhiều quyền lực sẽ vẫn thuộc về từng tiểu bang, và họ cũng sẽ có một lợi thế quyết định: Tiểu bang sẽ gần gũi với cử tri hơn nhiều so với Liên bang. Về mặt này, những người theo chủ thuyết Liên bang đã nhìn thấy trong Hiến pháp một sự thỏa hiệp thành công giữa lợi ích và thẩm quyền của tiểu bang và liên bang. Đối với họ, đó là một trật tự liên bang với sự cân bằng nội bộ.
Một đặc điểm chính khác của Hiến pháp mới là tạo ra một hệ thống chính trị dựa trên sự phân quyền. Học thuyết về phân quyền của Montesquieu, lý thuyết gia về nhà nước người Pháp, được cả hai giới chỉ trích và ủng hộ Hiến pháp và coi đó là cơ sở tất yếu cho bất kỳ cuộc tái tổ chức chính trị nào, và điều này là đúng như vậy. Đó là dấu hiệu của các chế độ và các hệ thống độc tài mà quyền lực tập trung vào một nơi và không chịu sự kiểm soát nào từ bên ngoài. Chia sẻ quyền lực, đặt chúng chống lại nhau và do đó không cho phép bất kỳ ai trong số họ trở nên quá mạnh, là một công cụ thiết yếu để bảo vệ tự do cho người dân. Đó là lý do tại sao mà không có hệ thống tự do n dân chủ nào mà không có sự phân quyền.
Do đó, trong tài liệu về Hồ sơ Liên bang, năm bài viết được trình bày minh thị dành cho chủ đề „kiểm soát và cân bằng“ và hơn ba mươi bài là mặt thị, cụ thể là giải thích về chức năng của các cơ quan Hành pháp, Lập pháp và Tư pháp. Hiến pháp Hoa Kỳ quy định một hệ thống tổng thống chề, có nghĩa là tổng thống không do quốc hội như trong hệ thống nghị viện bầu, mà được bầu riêng biệt, bởi các đại cử tri đoàn. Điều này mang lại cho tổng thống một vị trí vững chắc, được những người theo chủ thuyết Liên bang nhiệt liệt bảo vệ: „Một cơ quan Hành pháp mạnh là một trong những đặc điểm chính của chính phủ hữu hiệu.“ Các thẩm quyền quan trọng như chỉ huy tối cao quân đội, quyền ân xá hoặc quyền đề cử đại sứ và thẩm phán của Tối cao Pháp viện phải được thống nhất vào trong một tay một người để có thể bảo vệ cộng đồng từ bên trong và bên ngoài và bảo vệ tự do. Sau các kinh nghiệm trong nhiệm kỳ tổng thống Trump, người ta đọc những đoạn văn này hơi khác đi, nhưng những người theo chủ thuyết Liên bang đã bị thuyết phục rằng Hiến pháp đã tiên liệu đủ để tạo ra các biện pháp đảm bảo rằng không có quyền lực nào chiếm ưu thế so với hai quyền lực kia. Trên hết, họ tin tưởng vào cơ chế cân bằng nội tại trong quyền lực: „Người ta phải đảm bảo rằng tham vọng chống lại tham vọng.“ Bất cứ ai luôn nắm giữ một chức vụ, họ sẽ kết hợp nó với lợi ích cá nhân. Nhưng hệ thống làm chướng ngại vật và cán cân quyền lực được thiết kế một cách khéo léo, hợp tác và kiểm soát giữa ba quyền lực sẽ đảm bảo rằng điều tốt nhất cho tất cả mọi người vẫn sẽ thành hình. Trong ý tưởng này, chúng ta tìm thấy nguyên tắc tự do nguyên thủy của một cuộc cạnh tranh của các chủ thuyết ích kỷ, mà chúng không có gây hại vì chúng kiểm soát lẫn nhau và cuối cùng thậm chí mang lại lợi ích vì thúc đẩy lẫn nhau.
Nguyên tắc tương tự cũng có hiệu quả trong xã hội, bởi vì Hiến pháp mới dựa trên nguyên tắc đa nguyên. Trong tài liệu Liên bang nổi tiếng số 10, các tác giả giải thích rằng ở đâu mà tự do chiếm ưu thế, các đảng phái thành hình và họ cố gắng thực hiện các lợi ích cụ thể của họ. Nếu người ta muốn tự do, thì phải chấp nhận sự thành hình của các nhóm lợi ích như vậy và dựa vào việc mà họ làm cân bằng lẫn nhau. Nhờ thế mà đảm bảo rằng không có nhóm đặc biệt nào mạnh nào có thể trở nên chế ngự về chính trị, Hiến pháp không tiên liệu một nền dân chủ trực tiếp, mà một nền dân chủ đại diện. Đối với những người theo chủ thuyết Liên bang, điều này có nghĩa là một nhóm các đại diện dân cử có thể sàng lọc và thanh lọc ý chí của người dân và do đó làm dung hoà hóa các lợi ích cụ thể. Ngoài ra, cũng theo một lập luận khác, hệ thống đại nghị giúp cho việc mở rộng dân chủ ra một lĩnh vực rộng lớn. Lãnh thổ càng lớn thì số lượng các phe phái càng nhiều. Điều này làm cho việc hình thành đa số khó khăn, nó có thể sẽ là nguy hiểm hơn cho lợi ích công cộng
Theo những người theo chủ thuyết Liên bang tóm tất, Hiến pháp bảo đảm cho tự do dân sự, nhưng ngăn cản việc thực thi của những người có thế lực mạnh nhất. Hiến pháp dân chủ, nhưng nó tránh các vấn đề của dân chủ trực tiếp, chẳng hạn như sự hỗn loạn gây ra bởi các cuộc đấu tranh của đảng phái và các cuộc họp quần chúng mang đầy cảm xúc. Và nó cho phép mở rộng trật tự dân chủ đến một khu vực rộng lớn, cuối cùng thúc đẩy chủ thuyết đa nguyên xã hội và do đó tình trạng kiểm soát và cân bằng trong xã hội.
Phê bình
Trong sự xung đột giữa giới theo và chống chủ thuyết Liên bang phản ánh không ít sự tương phản giữa các tiểu bang miền Bắc có phát triển kinh tế và các tiểu bang miền Nam chuyên về nông nghiệp, còn nắm giữ nô lệ. Mặc dù những người phản đối Hiến pháp, chống chủ thuyết Liên bang, đại diện cho các quan điểm khác nhau trong chi tiết, nhưng họ lặp đi lặp lại những điểm chỉ trích chung. Người ta có thể nói một cách khái quát hóa là họ đã chống lại sự hiểu biết về tự do dân chủ của những người theo chủ thuyết Liên bang bằng một cách của thể chế Cộng hòa. Theo đó, các nguyên tắc quyết định phải là đức tính của công dân và các quan chức, một nền Cộng hòa có thể kiểm soát được và tính đồng nhất của quyền công dân – chứ không phải là sự cân bằng lợi ích, một hệ thống chính trị trong quy mô lớn và sự đa dạng của công dân. Ảnh hưởng theo lối sống khắt khe về mặt đạo đức của Thanh giáo. những người chống chủ thuyết Liên bang cho rằng quyền lực đã bị nhũng lạm và do đó cần phải được hạn chế càng nhiều càng tốt.
Từ đó, họ có thể đưa ra những cáo buộc rất cụ thể để chống lại Hiến pháp: Tổng thống được coi là một Quốc vương trong chế độ bán quân chủ và không được kiểm soát đầy đủ, để ông có thể đàm nhiệm chức vụ vì lợi ích cá nhân. Các đại biểu còn quá ít để có thể đại diện tương xứng cho dân chúng, và cùng với các thượng nghị sĩ, họ tạo thành một tầng lớp quý tộc quá xa rời dân chúng. Dân quyền bị đe dọa vì sự phân quyền không đảm bảo đầy đủ. Quyền của từng tiểu bang có thể bị chính phủ liên bang làm suy yếu; có một mối đe dọa của một trật tự thống nhất thay vì là liên bang. Nhìn chung, người ta lo ngại rằng Hiến pháp sẽ không thiết lập một nền dân chủ đích thực, mà là một loại chế độ quân chủ hoặc tầng lớp quý tộc do những người có thế lực kinh tế mạnh cai trị. Mọi người chỉ đơn giản là không tin rằng người ta có thể cai trị dân chủ trên một khu vực rộng lớn như vậy và hệ thống kiểm soát và cân bằng sẽ thực sự hoạt động. Một số thậm chí còn thấy một chế độ chuyên chế đang đến gần.
Như một sự nhượng bộ cho những người chống chủ thuyết Liên bang và để đảm bảo các dân quyền, một danh mục các quyền cơ bản đã được thêm vào Hiến pháp vào năm 1791. Dưới sự lãnh đạo của Thomas Jefferson, những người chống chủ thuyết Liên bang đã thành lập Đảng Dân chủ-Cộng hòa vào năm 1792, từ đó Đảng Dân chủ cuối cùng thành hình.
Hiện trạng
Bất chấp những cơn bão của thời gian, việc Hiến pháp Mỹ vẫn còn hiệu lực chắc chắn cũng là do nó được soạn thảo rất ngắn và quá tổng quát. Điều này làm cho Hiến pháp linh hoạt trong việc ứng dụng. Tuy nhiên, đồng thời, sự mơ hồ của Hiến pháp cũng là một lối ngõ có thể mở ra cho những cách giải thích đáng nghi ngờ từ phía các chính giới có quan tâm. Trong quá khứ, đã có những lời cáo buộc về việc tự uỷ quyền của cơ quan Tư pháp liên bang, đặc biệt là Tối cao Pháp viện, thái độ phong toả của Quốc hội hoặc sự lạm quyền của liên bang đối với các tiểu bang. Tuy nhiên, hiện nay, chắc chắn vai trò của tổng thống trong cơ cấu quyền lực gây ra mối lo ngại, thậm chí sợ hãi trong việc duy trì nền dân chủ. Trên thực tế, dưới thời tổng thống Donald Trump, những phát triển đã được thúc đẩy dường như dao động giữa việc giải thích Hiến pháp quá lố và công khai vi phạm Hiến pháp.
„Tổng thống Hoa Kỳ có quyền vô giới hạn để ân xá cho tội phản quốc; nó có thể được sử dụng để bảo vệ khỏi sự trừng phạt những người mà chính tổng thống đã bí mật xúi giục họ phạm tội này.“ Những lời của George Mason, nhà phê bình Hiến pháp, từ năm 1787 nghe có vẻ gần như là tiên tri, nếu người ta nghĩ đến sự ân xá của Trump đối với những thành phần cực đoan, họ đã xông vào Điện Capitol vào ngày 6 tháng 1 năm 2021, sau khi ông đã xúi giục họ làm như vậy. Nhưng Trump không chỉ sử dụng các quyền hạn được minh thị trao cho tổng thống trong Hiến pháp theo cách gây nguy hiểm cho hệ thống. Ông cũng tích cực sử dụng học thuyết „quyền hành pháp đơn nhất“, vốn đã bị căng thẳng dưới thời George W. Bush.
Theo điều khoản hiến định này, quyền Hành pháp thuộc về Tổng thống Hiệp Chủng quốc Hoa Kỳ được giải thích theo cách mà chỉ một mình Tổng thống là có toàn quyền về Hành pháp. Lời cổ vũ của những người theo chủ thuyết Liên bang nên tập trung quyền Hành pháp vào trong tay một người dường như là ủng hộ cách giải thích này. Tuy nhiên, họ đã không ngờ rằng có một người có thể trở thành tổng thống công khai lạm dụng chức vụ để theo đuổi lợi ích riêng. Trump tuyên bố có quyền thâm nhập vào tất cả các cơ quan liên bang, chiếm các cơ quan Hành pháp, mà về cơ bản là theo sự tuân thủ, không phải năng lực, bào mỏng chính quyền bằng cách sa thải hàng loạt và đảm bảo lòng trung thành bằng cách khuấy động nỗi sợ hãi về cuộc sống.
Nhưng Trump còn thâm nhập vào hai cơ quan quyền lực khác. Bởi vì luật khi được Quốc hội thông qua, cũng ràng buộc cho tổng thống, Trump phản ứng bằng cách thông qua một số lượng lớn các sắc lệnh Hành pháp, bỏ qua cơ quan Lập pháp. Bằng cách thay đổi cách thay đổi các địa hạt bầu cử và các điều khoản hạn chế liên quan đến bầu cử qua đường bưu điện, ông đang cố gắng kiểm soát các cuộc bầu cử quốc hội. Trump đơn phương chấm dứt các hiệp ước quốc tế bằng sắc lệnh và không có sự chuẩn thuận của Thượng viện. Và đối với ngành Tư pháp, các thẩm phán mà ông đề cử về cơ bản là những người trung thành, cũng như Bộ trưởng Tư pháp, người cũng là một Công tố viên liên bang. Trump thường cố gắng gây ảnh hưởng đến ngành Tư pháp, đặc biệt là khi bản thân ông là đối tượng bị truy tố hình sự. Việc các thẩm phán Tối cao Pháp viện có xu hướng nghiêng về phía ông đảm bảo quyền miễn tố cho tổng thống vào năm 2024 đối với tất cả cácmà ông hành vi chính thức gây ra trong nhiệm kỳ đã mở rộng khả năng điều động của ông hơn nữa. Ông cũng sử dụng điều này để xâm phạm quyền của từng tiểu bang, ví dụ như khi ông cử lực lượng cảnh sát thuộc ICE đến các tiểu bang để thực thi chính sách chống người nhập cư.
Sự can thiệp của Trump trong lĩnh vực khoa học và truyền thông chắc chắn không được Hiến pháp đề cập, mặc dù mối quan hệ thân thiết của ông với các tỷ phú công nghệ như Elon Musk, Mark Zuckerberg, Jeff Bezos và Peter Thiel có liên quan đến sự đan xen độc đáo của quyền lực chính trị, kinh tế và truyền thông. Và đây chính xác là xu hướng chung trong nhiệm kỳ tổng thống của ông, ông làm suy yếu sự phân quyền và quyền của các tiểu bang; thông qua các trường đại học và truyền thông, ông giành quyền độc tôn trong việc giải thích đối với lịch sử và nhiệm kỳ tổng thống và làm suy yếu nguyên tắc kiểm soát và cân bằng ở cấp độ phi nhà nước cũng như bằng cách kết hợp sức mạnh chính trị và kinh tế. Bất cứ ai muốn thiết lập một chế độ độc tài và tập trung tất cả quyền lực vào một điểm đều phải tiến hành theo cùng một cách này.
Trong bối cảnh này, nếu nhìn lại hệ thống phức tạp và cân bằng chu đáo mà Hiến pháp dự kiến, có lẽ chỉ có một kết luận là các định chế có thể bị phá hoại; ngay cả cấu trúc định chế phức tạp và được cân nhắc kỹ lưỡng nhất cũng chỉ hoạt động với thái độ phù hợp của những người đương nhiệm. Phải chăng giới theo chủ thuyết Liên bang, mặc dù họ tin vào sự cân bằng của sự ích kỷ thông qua cán cân quyền lực, cũng nghi ngờ điều này, họ vẫn tiếp tục nói về đức tính của những người đang giữ chức vụ được mong đợi trong tương lai? Một số thẩm phán Mỹ đã thể hiện lòng can đảm khi ngăn chặn tổng thống về những hành động bất hợp pháp. Họ đã không tách biệt giữa chức vụ và tinh thần đạo đức nghề nghiệp. Chúng ta phải tiếp tục hy vọng vào điều đó. Bởi vì ngay cả khi có các định chế về kiểm soát quyền lực mạnh mẽ hơn trong Hiến pháp, nó vẫn sẽ đòi hỏi những người kiên định dám áp dụng chúng – chống lại người theo chủ trương dân túy, mà ông ta có được sự ủng hộ của đám động quần chúng, dường như họ sẵn sàng từ bỏ di sản của những người sáng lập.
***
Barbara Zehnpfennig là Giáo sư hồi hưu về khoa Lý thuyết Chính trị và Lịch sử tư tưởng tại Đại học Passau (Đức).