Aus Politik und Zeitgeschichte 16-19/2025
Gudrun Krämer
Đỗ Kim Thêm dịch

Lời người dịch: Thay vì trình bày chi tiết về sự thành hình và phát triển của Hổi giáo như trong danh phẩm „Geschiche des Islam“, trong tiểu luận sau đây, Gudrun Krämer tập trung mô tả Hồi giáo như là một chủ nghĩa chính trị, một hiện tượng của thời đại mới và tiến trình của nhiều giai đoạn đấu tranh chánh trị được chia ra khác nhau.
Khác với lịch sử tư tưởng cổ thời, nội dung của chủ nghịã Hồi giáo chính trị có thể được xác định bước khởi đầu khá chính xác vào năm 1928 khi Nhóm Tình Huynh đệ Hồi giáo được Hasan al Banna, xuất thân là một giáo viên tiểu học, thành lập tại Ai Cập. Phong trào này dựa trên các tư tưởng cải cách của tông phái Sunni vào cuối thế kỷ 19 (Salafiyya) và nhanh chóng phát triển từ một hiệp hội đạo đức địa phương thành một tổ chức chính trị quần chúng.
Sự phát triển của Hồi giáo hịện đại dựa trên chủ trương bác bỏ quan điểm về một nhà nước theo kiểu phương Tây, đó là một nhà nước có lãnh thổ, dân tộc, luật pháp và tổ chứ, thường được cho là một khái niệm sai lầm do di sản của thực dân để lại,. Trong khi đó, nhìn trong tổng thể, giáo lý Hồi giáo được xem là một hệ thống ý thức hệ toàn diện cho mọi chuyển hóa chính trị trong xã hội („quốc hữu hóa Hồi giáo“).
Sư lan toả Hồi giáo là một sự chuyển động liên tục giữa tinh thần ôn hòa và cực đoan. Trong khi chủ trương ôn hoà bằng cách chính trị hoá cố gắng giành nhiều ảnh hưởng của tín đồ thông qua công tác xã hội và tham gia bầu cử, thì một trào lưu cực đoan thành hình mang nhiều màu sằc chiến đấu cho thánh chiến sau giai đoạn bị nhà nước đàn áp, đặc biệt ở Ai Cập dưới thời Nasser. Các xung đột trong nội bộ tôn giáo ngày càng gay gắt. Điều chủ yếu là việc hợp pháp hóa giáo lý cho việc sử dụng bạo lực nhằm chống lại những người bất đồng chính kiến và việc phân loại và khai trừ các tín đồ bị kết án là „kẻ ngoại đạo“.
Hiện nay, phong trào „hậu Hồi giáo“ đang thành hình và có xu hướng tách biệt các hoạt động chính trị ra khỏi tôn giáo và công nhận nguyên tắc thế tục. Tại Tunisia, từ năm 2016, một đảng bảo thủ đề cao các giá trị chung được thành lập và hướng về một trật tự mới cho nền dân chủ và tự do. Khái niệm này có phù hợp không, còn cần có nhiều thời gian để theo dõi.
***
Bắt đầu vào đầu thế kỷ 20, kể từ khi tinh thần Hồi giáo với các hình thức tổ chức, hành động và biểu hiện đã trở nên khác biệt một cách đáng kể. Từ đó, trào lưu này luôn hoạt động liên tục qua các giai đoạn ôn hòa xen kẽ với cực đoan hóa.
Điều khá bất thường trong lịch sử tư tưởng, khởi đầu của chủ trương Hồi giáo có thể được xác định chính xác, và có lẽ chủ yếu vì nó không chỉ xuất hiện như một ý tưởng hay ý thức hệ, mà còn là một phong trào có tổ chức. Tổ chức này bắt đầu với Tình huynh đệ Hồi giáo, được thành lập năm 1928 bởi giáo viên trẻ tiếng Ả Rập Hasan al-Banna (1906–1949), tổ chức này đã phát triển trong suốt hai thập niên từ một hiệp hội đầy tín mộ thuộc cấp tỉnh thành một tổ chức quần chúng trong toàn quốc. Dựa trên các ý tưởng của các nhà cải cách Hồi giáo thuộc tông phái Sunni vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, thường được gọi là Salafiyya (không nên nhầm lẫn với Salafist ngày nay), al-Banna đã truyền bá một Hồi giáo „đương đại“ và theo nghĩa này là Hồi giáo hiện đại, nhằm củng cố người Hồi giáo cả về tinh thần lẫn thể chất và đồng thời trao quyền chính trị cho họ – một sự ủy quyền trong biểu hiện của một Hồi giáo vốn đã được đổi mới và đầy năng động.
Vào thời điểm Ai Cập giành được được độc lập trên danh nghĩa nhưng trên thực tế vẫn bị chìm trong bóng tối bởi chủ nghĩa thực dân Anh, Nhóm tình huynh đệ Hồi giáo đã tạo dựng thanh danh như một phong trào chống thực dân, chống thế tục và chống tự do; đối thủ của họ, ngoài chủ nghĩa thực dân Anh và chủ nghĩa phục quốc Do Thái ở Palestine, vốn cũng được xem là thuộc địa, còn là những người theo chủ thuyết tự do, tinh thần tự do và xã hội chủ nghĩa Ai Cập. Giống như các lực lượng trí thức và chính trị khác cùng thời, Anh em Hồi giáo không chỉ nhận được sự ủng hộ từ tầng lớp trung lưu đô thị mới („Efendiyya“), mà còn từ những nhân viên cấp thấp, chủ cửa hàng, thợ thủ công, công nhân và thậm chí cả nông dân. Vào những năm 1940, lần đầu tiên họ thu hút được số lượng sinh viên đáng kể. Sau Thế chiến thứ hai, họ đã có vài trăm nghìn thành viên. Dưới chế độ quân chủ, Nhóm Tình huynh đệ Hồi giáo là lực lượng xã hội và chính trị duy nhất phát triển không phải từ các mạng lưới thân hữu của tầng lớp thượng lưu đại điền chủ, mà từ trung tâm của xã hội.
Hasan al-Banna ủng hộ một chiến lược cải cách dựa trên công việc và sứ mệnh từ cơ sở (tiếng Ả Rập: daʿwa), không phải cách mạng. Ông từ chối hệ thống đảng phái, nhưng trung thành với hoàng gia Ai Cập. Nhìn trong tổng thể, sự xuất hiện của ông khá mơ hồ, thậm chí còn mâu thuẫn: trong khi ông kêu gọi sự thận trọng, lên án bạo lực chống lại người Hồi giáo và thúc đẩy một Hồi giáo trung dung, ông lại truyền bá thánh chiến cho các tín đồ trẻ tuổi bằng ngôn ngữ quân sự và dung túng cho một bộ máy bí mật vào những năm 1940 thực hiện các cuộc tấn công nhằm vào đối thủ chính trị. Những mâu thuẫn này đã gây ra sự nhầm lẫn trong hàng ngũ của ông và gây ra sự nghi ngờ cho người ngoài. Do đó, đánh giá của người đương thời và giới quan sát ngày nay về con người và công nghiệp của al-Banna là khác nhau.
Sự trỗi dậy và tinh thần cực đoan hóa
Thế chiến thứ hai và việc thành lập Nhà nước Israel đã thay đổi căn bản chính trị và xã hội ở Trung Đông Ả Rập. Từ năm 1949 đến 1969, một loạt các cuộc đảo chính quân sự đã đưa lên các chế độ kiểu mới nắm quyền, được hợp pháp hóa bởi bản sắc Ả Rập, dịch vụ xã hội và đối đầu với Israel. Cuộc đảo chính của các sĩ quan tự do ở Ai Cập năm 1952 cũng được nhiều thành viên của Tinh thần Hồi giáo ủng hộ. Tuy nhiên, họ nhanh chóng nhận ra rằng các sĩ quan không dung thứ cho bất kỳ lực lượng tự trị nào bên cạnh họ. Sau một cuộc tấn công (thất bại) nhằm vào Gamal Abdel Nasser vào giữa những năm 1950, hàng nghìn thành viên của nhóm Tình Huynh đệ Hồi giáo và giới chỉ trích chế độ khác đã bị giam giữ, nhiều người đã lẩn trốn hoặc lưu vong. Việc lưu vong tại các quốc gia vùng Vịnh Ả Rập bảo thủ về tôn giáo và xã hội đã củng cố hai xu hướng: quốc tế hóa của „dòng chảy Hồi giáo“, như thuật ngữ tiếng Ả Rập phổ biến, và thái độ bảo thủ của nó.
Nhóm Tình Huynh đệ Hồi giáo đã phát triển dưới sự bảo trợ của thuộc địa. Ngược lại, chủ trương tinh thần Hồi giáo cực đoan, thánh chiến là một ý tưởng và phong trào một hiện tượng hậu thuộc địa. Về lý thuyết, tổ chức này được thành lập vào nửa đầu những năm 1960 bởi Sayyid Qutb (1906–1966), người đã gia nhập nhóm Tinh Huynh đệ Hồi giáo vào đầu những năm 1950 (tức là sau khi al-Banna qua đời). Sự trỗi dậy và tinh thần cực đoan hóa của phong trào Hồi giáo không thể chỉ giải thích bằng „thất bại“ của chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa xã hội Ả Rập cũng như thất bại của người Ả Rập trước Israel trong Chiến tranh tháng Sáu năm 1967: Qutb bị xử tử trước Chiến tranh Tháng Sáu và bản tuyên ngôn cấp tiến „Milestones“ của ông được phổ biến khoảng năm 1964.
Là một học giả có nghiên cứu về văn học, Qutb thuộc nhóm nhà tư tưởng „Hồi giáo“ mới, những người tự nhận là có kiến thức tôn giáo, thậm chí còn có thẩm quyền tôn giáo, ngay cả khi ông không được đào tạo chính thức là học giả về giáo lý và giáo luật Hồi giáo. Ông tiếp nhận những sợi chỉ truyền thống hiện có và làm cho chúng có trọng lượng và màu sắc mới. Trích dẫn Kinh Koran, ông tập trung vào lập luận đã quyết định về việc diễn ngôn Hồi giáo trong nhiều thập niên:
Theo các câu 5:44, 5:45 và 5:47, bất kỳ ai không phán quyết theo những gì Thượng Đế đã mặc khải thì không phải là một người Hồi giáo. Qutb đồng nhất „điều đã được mặc khải“ với luật Sharia, đồng thời liên hệ phát biểu trong Kinh Qur’an với khái niệm hiện đại về Hakimiyya (thuật ngữ nền tảng hukm dao động về nghĩa giữa luật pháp/phán quyết và chính trị/quyền cai trị). Khái niệm này mô tả Thượng Đế là Đấng lập pháp tối cao có chủ quyền, qua đó giới hạn quyền tự chủ và tự do của con người, không chỉ trong các vấn đề pháp lý.
(Qutb nhấn mạnh rằng giáo luật này không chỉ áp dụng trong lĩnh vực pháp luật, mà còn mở rộng sang lĩnh vực chính trị và quyền lực nhà nước, vì Đấng Allah không những là nguồn gốc của luật pháp, mà còn có chủ quyền chính trị tối cao. Mọi chính quyền chỉ có tính chính đáng khi tuân theo sự hướng dẫn những gì mà Đấng Allah đã mặc khải. Lối diễn giải này có ảnh hưởng rộng lớn trong một số trào lưu Hồi giáo hiện đại, nhưng không phải tất cả các học giả về giáo luật Hồi giáo đều đồng ý với cách hiểu này, chú thích của người dịch, CTCND.)
Hơn nữa, ông phân biệt một xã hội trong đó con người cai trị con người và tuân theo các luật do con người tạo ra, với một xã hội chỉ phục tùng sự cai trị, phán xét và luật pháp của Allah. Việc bác bỏ quyền lực con người và sự tùy tiện – dưới một chế độ quân sự độc tài – đã khiến Qutb trở thành một nhà thần học giải phóng trong mắt nhiều người. Cùng lúc đó, ông đã diễn giải lại thuật ngữ Jahiliyya (sự thiếu hiểu biết) từ một thuật ngữ chỉ thời kỳ trước Hồi giáo, khi con người không thể biết đến Hồi giáo, thành một phạm trù đạo đức vượt thời gian: Jahiliyya là sự phủ nhận có ý thức, có trách nhiệm về mặc khải, một cuộc nổi dậy chống lại Thượng đế và đồng nghĩa với sự bội giáo. Tuy nhiên, chống lại kẻ thù của Chúa, nhưng jihad là hợp pháp, thậm chí có thể là nghĩa vụ, dù họ tự coi mình là người Hồi giáo. Qutb không phải là người „sáng tạo“ ra các từ mới Hakimiyya và Jahiliyya – nhà báo và nhà hoạt động Ấn Độ-Pakistan Abul Ala Maududi (1903–1979) đã từng chứng minh theo cách tương tự ở Ấn Độ thuộc địa bằng tiếng Urdu vào những năm 1940. Nhưng ông còn bổ sung chúng một cách thuyết phục hơn theo cách „Hồi giáo“, diễn đạt chúng bằng tiếng Ả Rập và do đó mang lại hiệu quả lớn hơn nhiều.
Trái ngược với Maududi, Qutb không nhắm tuyên chiến với một cường quốc thuộc địa, mà nhắm vào hệ thống thuộc về Nasser của chính mình. Qutb không lên án tinh thần dân tộc Ả Rập và chủ nghĩa xã hội vì chúng thất bại do Israel hay những kỳ vọng mà chính họ đã đặt ra (điều này chưa rõ ràng trước năm 1967), mà vì ông phủ nhận yêu sách về tính chính danh của chúng theo nghĩa thế tục. Dù phán quyết rất nghiêm khắc, ông đã tránh né một câu hỏi chủ yếu, liệu những người tuân theo hệ thống vô thần có mất tư cách là người Hồi giáo không, (một thuật ngữ chuyên môn là takfir, tuyên bố cho là kẻ không phải tin đồ và „rút phép thông công“) và có thể phải chiến đấu bằng vũ khí. Trong những thập niên tiếp theo, vấn đề takfir đã tạo ra một trong những ranh giới quan trọng nhất trong trào lưu Hồi giáo. Một thế hệ các giới hoạt động trẻ (gọi là Qutbisten) đã rút ra những hệ quả triệt để từ những phát hiện của Qutb. Vào những năm 1970, các tổ chức chiến binh thành hình tại các trường đại học Ai Cập và họ kiểm soát một phần vùng nông thôn Trung và Thượng Ai Cập vào những năm 1980. Các cộng đồng Hồi giáo và tổ chức thánh chiến giới hạn takfir (nhưng không phải bạo lực) chỉ trong chế độ cầm quyền và bị họ chống đối với tất cả sự quyết liệt.
Năm 1978/79 bốn biến cố xảy ra mà về nguyên nhân không liên quan gì trực tiếp đến nhau, nhưng đã tạo động lực mới cho trào lưu Hồi giáo: Hòa ước Ai Cập với Israel, Cách mạng Iran, Liên Xô xâm lược Afghanistan và chiếm đóng Đại Thánh đường Hồi giáo ở Mecca. Hòa ước Ai Cập với Israel tại Camp David đã vấp phải sự chỉ trích gay gắt trong chính nước này và trong thế giới Ả Rập, đồng thời góp phần đáng kể vào vụ ám sát Anwar as-Sadat bởi các cộng đồng Hồi giáo năm 1981. Chế độ Shah sụp đổ, dù được vũ trang hùng hậu và được Mỹ hậu thuẫn, cũng được các nhóm theo cánh tả và đề cao tinh thần dân tộc ca ngợi như một cuộc cách mạng. Chỉ cho đến lúc một trật tự giáo sĩ được củng cố rõ ràng, học thuyết gây nhiều tranh cãi của Ayatollah Khomeini về sự cai trị của luật gia (tiếng Ba Tư: velayat-e faqih) đã được thực hiện, các phần tử Hồi giáo theo tông phái Sunni và thậm chí cả Hezbollah theo tông phái Shiite Mười Hai do Iran hậu thuẫn mới tách mình ra, vì họ không muốn thấy giáo lý của Khomeini được thực thi trong nước Libanon. Ngược lại, cuộc xâm lược Afghanistan của Liên Xô năm 1979 đã tạo ra một trọng tâm mới của sự kháng chiến Hồi giáo bên cạnh Palestine và chính đất nước mình, đồng thời thúc đẩy một trào lưu quốc tế hóa của nó. Trong những năm tiếp theo, tổ chức al-Qaeda (al-Qaeda, có nghĩa là Cơ sở) phát triển dưới thời Osama bin Laden thành tổ chức thánh chiến xuyên quốc gia có ảnh hưởng nhất.
Các chế độ ở Ai Cập, Pakistan và Sudan đã cố gắng làm suy yếu sự chỉ trích Hồi giáo nói chung và phe đối lập Hồi giáo nói riêng bằng cách „áp dụng“ luật Sharia ngay tại quốc gia của họ. Tuy nhiên, giữa Algeria, Ả Rập Xê Út, Syria và Chechnya, phong trào Hồi giáo đã diễn ra với nhiều khía cạnh khác nhau. Những người Hồi giáo cực đoan bác bỏ thánh chiến chống lại người Hồi giáo vì cho rằng trái với đạo Hồi, đã mở rộng sự ủng hộ trong xã hội, bao gồm cả phụ nữ, thông qua cam kết xã hội và công việc chính trị („diễu hành qua các thể chế“). Tuy nhiên, tinh thần Hồi giáo vẫn chủ yếu là hiện tượng đô thị; chỉ ở Yemen, các phần tử Hồi giáo mới có nền tảng bộ tộc nông thôn đáng kể. Phần lớn độc lập với tinh thần Hồi giáo có tổ chức, một sự „Hồi giáo hóa“ về kinh tế, văn hóa và giáo dục, thời trang, khẩu vị và tiêu dùng đã lan tỏa giữa Malaysia, các quốc gia vùng Vịnh Ả Rập, Thổ Nhĩ Kỳ và Ai Cập, mà giới phê bình phân loại là „Hồi giáo thị trường“ lấy cảm hứng từ phong trào tân tự do.
„Hồi giáo là giải pháp“
Tóm lại, tinh thần Hồi giáo hướng tới việc tái định hình mọi khía cạnh của đời sống cá nhân, cộng đồng và nhà nước trên một vùng lãnh thổ nhất định và, cuối cùng, ở cấp độ ttrên oàn cầu, dựa trên một cách hiểu cụ thể về Hồi giáo, công nhận không phải quyền lực con người, mà chỉ công nhận Kinh Koran và Sunnah là nền tảng của đời sống và tư tưởng Hồi giáo, hiểu Sharia như một hệ thống pháp lý và giá trị toàn diện cần được „áp dụng“ một cách toàn diện, và nhìn thấy ở những người Hồi giáo đầu tiên là khuôn mẫu cho đời sống Hồi giáo hiện tại. Bất chấp mọi chỉ trích về tình trạng bất công, nghèo đói và bệnh tật, vốn chắc chắn có tác động trong việc huy động, trọng tâm không phải là vần đề kinh tế và bất bình đẳng xã hội, mà là đạo đức, pháp luật và quy tắc. Ít nhất các đại diện của chủ trương Hồi giáo chính trị truyền bá một trật tự Hồi giáo như một lựa chọn đạo đức vượt trội hơn tất cả các thế giới quan và hệ thống khác, đặc biệt là với chủ trương hiện đại tự do-thế tục được đánh dấu là của phương Tây.
Trong bối cảnh đầy hỗn loạn, nhiều thay đổi, mang nhiều giá trị và mâu thuẫn, Hồi giáo nên bảo tồn bản sắc và chân tính của con người Hồi giáo, đồng thời tạo ra sự thuần nhất và minh bạch. Các hình tượng tư tưởng về sự toàn vẹn và sức mạnh, chia rẽ và yếu đuối, liêm chính và suy đồi đạo đức (thường gọi là „nhũng lạm“ trong tiếng Ả Rập), chân tính và tha hoá, và hiện đại hóa quen thuộc như việc mất kinh nghiệm, nhưng ở đây chúng được gắn liền với sự phê phán phương Tây thuộc địa. Bằng cách giảm bớt tinh thần Hồi giáo từ một cách sống thành một tôn giáo đơn thuần (theo nghĩa đức tin và một số cách thờ phượng) theo hiện đại phương Tây, do đó theo cách giải thích Hồi giáo mang tính thuộc địa không tạo ra thuận lợi ( như việc giải phóng khỏi xiềng xích của tôn giáo), mà là sự mất đi sự thống nhất, thuần khiết và quyền lực. Đối lập với lý tưởng Khai sáng về quyền tự chủ cá nhân và quyền tự quyết, luật Sharia được định vị như một cấu trúc các chuẩn mực và giá trị do Thiên Chúa tạo ra và tốt nhất có thể được con người thay đổi chi tiết. Sự phân biệt xã hội đặc trưng của thời hiện đại nhằm vượt qua một trật tự Hồi giáo bao trùm dựa trên Kinh Koran, Sunna và Sharia. Khẩu hiệu „Hồi giáo là giải pháp“ đại diện cho yêu sách toàn diện này.
Sự chỉ trích của người Hồi giáo đối với tinh thần Hồi giáo
Ngay từ khởi đầu, tinh thần Hồi giáo đã gây tranh cãi trong cộng đồng người Hồi giáo. Không hiếm khi nghe rằng nó không liên quan gì đến Hồi giáo mà là sự lạm dụng tôn giáo, đặc biệt dưới hình thức chính trị trong Hồi giáo. Hiện nay, có thể nhanh chóng chứng minh rằng Hồi giáo đã được sử dụng trong chính trị ngay từ đầu và vẫn tiếp tục được sử dụng cho đến ngày nay vượt ra ngoài trào lưu Hồi giáo, mà không bị lên án là lạm dụng. Về việc hiểu biết về kinh điển và định hướng về „tổ tiên sùng đạo“, ranh giới giữa dòng chính Sunni và cách hiểu Hồi giáo không phải lúc nào cũng dễ dàng xác định. Mặt khác, việc tuyệt đối hóa quan niệm Hồi giáo như là giáo lý duy nhất, thuần khiết và chân chính lại bị chỉ trích. Điều tương tự cũng áp dụng cho luận điểm nhà nước Hồi giáo như một điều kiện tiên quyết cần thiết cho tính Hồi giáo của cá nhân và xã hội (trước đây gắn liền với việc công nhận một imam hoặc caliph (iman là người đứng đầu trong các buổi lễ cầu nguyện tại thánh đường hay cộng đồng đạo Hồi, còn caliph hoặc khalifah là vị Vua Hồi giáo hoặc Quốc vương Hồi giáo, CTCND). Chính tại điểm này, bản chất hiện đại của tinh thần Hồi giáo được bộc lộ, giống như tinh thần dân tộc Ả Rập, họ bác bỏ một nhà nước hiện đại có lãnh thổ và dân tộc, được họ cho là do các cường quốc thực dân châu Âu áp đặt, nhưng về nội dung, nó rõ ràng được lấy cảm hứng từ các khái niệm hiện đại về nhà nước và pháp luật.
Trên bình diện thực hành Hồi giáo, các xung đột thể hiện rất rõ ràng: Điểm chính là về tính hợp pháp của việc sử dụng bạo lực qua diễn ngôn và thể chất đối với những người bất đồng chính kiến và người thuộc các tôn giáo khác, việc này dẫn đến thánh chiến và „rút phép thông công“ những người tự nhận mình là người Hồi giáo (takfir). Bị kích hoạt bởi vòng xoáy bạo lực của các phần tử Hồi giáo và nhà nước kéo dài từ Algeria và Tunisia đến Nigeria, Chechnya và Bali, đặc biệt là các vụ tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001 và hành động của cái gọi là Nhà nước Hồi giáo (IS/Daesh), các nhà lý thuyết về jihad vừa lên tiếng vừa lên tiếng như của những người chỉ trích. Các lập luận thần học, pháp lý và thực tiễn thường bị lẫn lộn. Tính hợp pháp của thánh chiến có vũ trang không bị nghi ngờ miễn là nó phục vụ để bảo vệ Hồi giáo và người Hồi giáo trước kẻ thù trong và giặc ngoài, trong đó ranh giới giữa phòng thủ và tấn công vẫn cần được xác định rõ ràng. Bạo lực đối với những người bất đồng chính kiến, người thuộc các tôn giáo khác (Do Thái, Cơ đốc giáo, Ấn Độ giáo hoặc Yazidi, nhưng cũng có người Shiite trong trường hợp tông phái Sunni và trong trường hợp các chiến binh thánh chiến Shiite) hoặc những người không phải là tín đồ mà không được chứng minh là đã đưa ra phát ngôn hoặc hành động bị xếp loại là xúc phạm hoặc thù địch. Một bổ sung mới là tranh cãi về các vụ đánh bom tự sát hoặc hành động tự hy sinh, vốn không phải là điều chưa từng biết đến trong lịch sử – cần nhắc đến những kẻ được gọi là sát thủ của thế kỷ 12 và 13 – nhưng hiện nay trong một bối cảnh khác được xem như kẻ khủng bố hoặc phong trào khủng bố.
Những lập luận cơ bản hơn là những người, một lần nữa dựa trên Kinh Koran và Sunna, họ tuyên bố về tinh thần ôn hòa (wasaṭiyya) hướng về trung dung (tiếng Ả Rập: wasaṭiyya) là một thái độ thực sự của Hồi giáo. Lời kêu gọi điều độ, trung dung và cân bằng quen thuộc từ truyền thống Aristotle, Nho giáo và cả Hồi giáo; Trong cách diễn đạt chính trị hiện tại, nó có thể được truy nguyên từ những năm 1960. Các luật sư của họ ủng hộ điều mà các nhà tư tưởng cực đoan và các nhà hoạt động đấu tranh bạo động bác bỏ: phương pháp trung dung vàng, cân nhắc cẩn thận về chi phí và lợi ích, sự quan tâm đến tổn thất giữa bạn và thù. Dù sự ôn hòa đã ăn sâu vào trong thinh thần Hồi giáo, nó có hai điểm yếu: nó cũng bị các chế độ độc tài đòi hỏi và thúc đẩy, và việc dàn dựng trên các phương tiện truyền thông còn tệ hại hơn nhiều so với cuộc đấu tranh thánh chiến.
Những nỗ lực tái lập thứ tự
Kể từ những năm 1980, trào lưu Hồi giáo đã được đa dạng hóa mạnh mẽ trong các lý thuyết gia và nhà hoạt động, mỗi người có ưu tiên về mặt tổ chức, hình thức và hành động riêng, đồng thời họ cạnh tranh lẫn nhau để gây sự chú ý, người hâm mộ và các nguồn lực. Do đó, những nỗ lực sắp xếp lại lĩnh vực cả về mặt khái niệm đều rất khó khăn. Về cơ bản, nhiều người phân biệt giữa một nhóm người theo chủ trương im lặng (phi chính trị) và hoạt động hoặc theo „Hồi giáo chính trị“; một số người xác định mình theo các quan điểm thánh chiến-Salafist và phần tử thánh chiến thầm lặng ngay cả trong phe vốn về nguyên tắc ủng hộ bạo lực. Trong phe hoạt động (chính trị), liên quan đến mối quan hệ với trật tự hiện tại và với người Hồi giáo phi Hồi giáo – và do đó đồng thời với bạo lực, thánh chiến và takfir – họ công nhận một mặt là các lực lượng ôn hòa, thực dụng và pháp lý, tức là các lực lượng tôn trọng trật tự pháp lý và hiến pháp tương ứng, dù họ không công nhận đó là thực sự Hồi giáo ( Nhóm Tình Huynh đệ Hồi giáo và các tổ chức có liên kết giữa Maroc, Jordan và Yemen). Mặt khác – và ở đây các khái niệm nhanh chóng trở nên mờ nhạt – họ nhìn thấy các lực lượng cực đoan, có tinh thần đấu tranh cách mạng theo cách thánh chiến hoặc khủng bố. Thỉnh thoảng, những người theo chủ trương hội nhập (gây ảnh hưởng trong xã hội của họ và muốn tham gia vào các tiến trình chính trị chính thức) cũng được phân biệt với những người theo chủ trương biệt lập (những người bác bỏ các điều này và rút lui ra khỏi xã hội). Những người khác phân biệt giữa phương cách lấy cộng đồng và nhà nước làm trung tâm, chủ yếu là muốn Hồi giáo hóa cộng đồng Hồi giáo theo ý nghĩa của họ hoặc chinh phục nhà nước. Cuối cùng, một số tổ chức phân biệt giữa các tổ chức tập trung vào kẻ thù gần (chế độ, cộng đồng hoặc xã hội của chính mình) hoặc kẻ thù xa xôi (thường là Hoa Kỳ và „phương Tây“). Như có thể thấy nhanh, có sự chồng chéo giữa các nhóm này.
Việc phân loại này dễ dàng thấy hơn nếu dựa trên các hình thức tổ chức và phạm vi hành động của chủ trương Hồi giáo. Đặc biệt kể từ đầu thiên niên kỷ, các nhóm gắn bó tại địa phương, kết nối xuyên quốc gia và hoạt động toàn cầu ngày càng trở nên đa dạng hơn. Bị thúc đẩy bởi các vụ tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001, các tổ chức quan trọng đã tách ra khỏi nguồn gốc địa phương, cụ thể là al-Qaeda sau nhóm Tình Huynh đệt Hồi giáo và Đảng Giải phóng Hồi giáo/Hizb ut-Tahrir, và ở mức độ hạn chế hơn là tổ chức Boko Haram từ miền bắc Nigeria; một số đã hình thành các điểm tập trung khu vực mới thông qua các nhượng quyền thực sự vượt ra ngoài khu vực xuất xứ, như al-Qaeda ở Maghreb hoặc bán đảo Ả Rập, Nhà nước Hồi giáo ở Tây Phi, Trung Á và Tây Âu. Ngược lại, nhóm Hamas tại Palestine, nhóm Hezbollah tại Lebanon, Đảng AKP tại Thổ Nhĩ Kỳ, nhóm Abu Sayyaf của Philippines, nhóm Taliban tại Afghanistan và các lực lượng dân quân al-Shabaab Somalia được kết nối xuyên khu vực, nhưng về cơ bản, tất cả hoạt động ở cấp địa phương hoặc cấp từng quốc gia. Hiện tượng cực đoan hóa thuộc về cá nhân qua mạng Internet và mạng xã hội, họ không bị kiểm soát bởi bất kỳ tổ chức nào, đây là điều tương đối mới và đã thu hút nhiều sự chú ý không chỉ ở Tây Âu.
Sửa đổi và tự phê bình
Nhìn trong tổng thể, không chỉ mạng lưới là phức tạp, mà còn có rất nhiều thứ đang thay đổi. Những người Hồi giáo cực đoan, dù họ có thể lập luận một cách trừu tượng và tuyệt đối, cũng được tích hợp vào các bối cảnh cụ thể, tương tác với môi trường xung quanh, sử dụng cơ hội („cấu trúc cơ hội“) và, nếu cần, tránh rủi ro cho bản thân và người khác. Chủ trương giáo điều và thực dụng thường mâu thuẫn. Những người Hồi giáo cực đoan cũng học hỏi từ kinh nghiệm, suy nghĩ lại các giả định và chiến lược của mình, và thỉnh thoảng thậm chí công khai chỉ trích chính mình. Năm 2000 – và trước sự kiện 11/9 – cộng đồng Hồi giáo Ai Cập đã từ bỏ bạo lực và cảnh báo thanh niên Hồi giáo về phong trào al-Qaeda. Mỗi sự thích nghi, chỉnh sửa hay tự phê bình đều được bình luận – thường rất phê phán – trong phe Hồi giáo, nơi các đối thủ thường công kích lẫn nhau là họ không tin vào các lập luận thần học hoặc chiến lược.
Thực tế là việc sửa đổi không nhất thiết chỉ theo hướng „ôn hòa“ được chứng minh qua ví dụ về chủ trương Salafism, thường được dùng đồng nghĩa với chủ nghĩa Hồi giáo hoặc Hồi giáo chính trị, mặc dù trong một thời gian dài giới Salafist không tập trung vào việc Hồi giáo hóa nhà nước và xã hội, mà âm thầm vào việc nuôi dưỡng bản thân và „lòng tín mộ“ của chính họ (do đó có thuật ngữ trong Anh ngữ pietist Islam, „Hồi giáo sùng đạo„), điều này không nên được đồng nhất với một „Hồi giáo sùng đạo“). Ngày nay, “ trong các vấn đề hàng ngày, Salafi“ chỉ những người Hồi giáo cũng noi gương Nhà tiên tri Muhammad và thế hệ đầu tiên của người Hồi giáo (tiếng Ả Rập: as-salaf as-salih, nghĩa là „tổ tiên mộ đạo“). Tuy nhiên, đặc biệt kể từ cuộc nổi dậy của người Ả Rập năm 2010 đến 2012, giới Salafist cũng đã trở nên chính trị hóa và thành lập các đảng Salafist riêng của họ.
Cùng thời gian này, các nhà Hồi giáo nổi danh đã quay lưng với các chủ trương hoạt động chính trị, vốn được nghiên cứu dưới tiêu đề „hậu Hồi giáo“. Ví dụ điển hình là phong trào Ennahda ở Tunisia („Phục hưng“, „Tái sinh“) dưới sự lãnh đạo của Rachid al-Ghannouchi, đã chính thức tách biệt hoạt động chính trị và tôn giáo vào năm 2016 – một bước đi có thể hiểu là sự công nhận nguyên tắc thế tục – và thành lập một đảng tự định nghĩa mình là bảo thủ về giá trị nhưng không theo chủ trương Hồi giáo và tuyên bố về một trật tự dân chủ, tự do. Bất kể là phong trào hậu Hồi giáo có phải là một khái niệm phù hợp hay không – các nhà Hồi giáo cực hữu cũng từng nói về „nền dân chủ Hồi giáo“ trong nhiều thập niên trước – sự chuyển mình này cũng chứng minh thuật ngữ „trào lưu“ nắm bắt được rất tốt về tinh thần Hồi giáo trong sự chuyển động thường trực của nó.
***
Gudrun Krämer, Giáo sư hồi hưu khoa Nghiên cứu Hồi giáo tại Freien Universität Berlin và nổi danh với tác phẩm xuất bản gần đây nhất là Geschichte des Islam, do NXB C. H. Beck ấn hành tại München 2024.
Der Islam
Der Islam entstand im 7. Jahrhundert n. Chr. auf der Arabischen Halbinsel.
Seine wichtigsten Quellen sind
* der Koran,
* die Sunna,
* die Hadithliteratur,
* sowie die frühe islamische Rechtswissenschaft (Fiqh).
Religion und Staat waren in der Frühzeit eng miteinander verbunden, allerdings existierte kein einheitliches politisches Modell, das alle Muslime als verbindlich anerkannten.
⸻
II. Islamismus – eine moderne Ideologie
Historiker unterscheiden heute klar zwischen
* Islam
* und Islamismus.
Islamismus bezeichnet den Versuch,
den modernen Staat vollständig nach religiösen Normen zu gestalten.
Dieser Begriff entstand allerdings erst im 20. Jahrhundert.
Die meisten Historiker sehen deshalb den Islamismus nicht als Fortsetzung der klassischen islamischen Geschichte, sondern als Antwort auf moderne Herausforderungen:
* Kolonialismus
* Industrialisierung
* Nationalstaat
* Säkularisierung
* westliche Dominanz
In diesem Punkt folgt Krämer der Mehrheitsmeinung der Forschung.
⸻
III. Warum gerade 1928?
Gudrun Krämer nennt die Gründung der Muslimbruderschaft im Jahre 1928 als Beginn des organisierten Islamismus.
Historisch ist dies gut begründbar.
Damals befand sich Ägypten zwar formal auf dem Weg in die Unabhängigkeit.
Tatsächlich blieb das Land jedoch politisch und militärisch stark vom Vereinigten Königreich abhängig.
Viele Ägypter empfanden
* den wirtschaftlichen Einfluss Europas,
* die kulturelle Verwestlichung,
* sowie den Verlust religiöser Autorität
als nationale Krise.
Hier setzte Hasan al-Banna an.
⸻
IV. Hasan al-Banna
Hasan al-Banna war Volksschullehrer.
1928 gründete er die Muslimbruderschaft.
Sein Ziel war zunächst keineswegs ein bewaffneter Umsturz.
Vielmehr wollte er
* religiöse Erziehung,
* soziale Fürsorge,
* Bildung,
* Armenhilfe,
* wirtschaftliche Selbsthilfe
mit einer religiösen Erneuerung verbinden.
Gerade diese Sozialarbeit machte die Organisation außerordentlich erfolgreich.
Innerhalb weniger Jahre entstanden
* Schulen,
* Krankenhäuser,
* Moscheen,
* Wohlfahrtseinrichtungen.
⸻
V. Quellenkritische Bewertung
Hier lohnt eine wichtige Differenzierung.
Viele populäre Darstellungen beschreiben die Muslimbruderschaft ausschließlich als extremistische Bewegung.
Historisch ist das zu einfach.
Ebenso wäre es falsch, sie ausschließlich als Wohlfahrtsorganisation darzustellen.
Die Quellen zeigen beides.
Frühe Schriften al-Bannas betonen
* Moral,
* religiöse Erziehung,
* gesellschaftliche Reform.
Gleichzeitig entstanden bereits in den 1940er Jahren geheime Strukturen, aus denen politische Gewalt hervorging.
Diese Ambivalenz ist historisch gut dokumentiert.
⸻
VI. Der Einfluss der Salafiyya
Ein weiterer wichtiger Punkt betrifft die sogenannte Salafiyya.
Hier besteht häufig ein Missverständnis.
Die Reformbewegung des 19. Jahrhunderts um Gelehrte wie Muhammad Abduh verstand sich vor allem als Erneuerungsbewegung. Ihr Ziel war es, den Islam mit Bildung, Vernunft und wissenschaftlichem Fortschritt zu verbinden. Erst spätere Strömungen entwickelten daraus teilweise deutlich konservativere oder fundamentalistischere Positionen.
Deshalb betonen viele Islamwissenschaftler, dass die Reform-Salafiyya des 19. Jahrhunderts nicht einfach mit dem heutigen Salafismus gleichgesetzt werden darf.
⸻
VII. Wissenschaftliche Bewertung
Gudrun Krämer bewegt sich hier auf dem Boden der internationalen Forschung.
Ihre Darstellung entspricht weitgehend Arbeiten von Forschern wie
* Olivier Roy,
* Gilles Kepel,
* John L. Esposito,
die den Islamismus als moderne politische Ideologie verstehen.
Einige Historiker setzen jedoch andere Akzente. Sie betonen stärker die Kontinuitäten zwischen klassischer islamischer Staatslehre und modernen islamistischen Konzepten. Darüber besteht in der Forschung kein vollständiger Konsens.
⸻
Vorläufiges Fazit
Historisch spricht vieles dafür, den Islamismus als ein Produkt der Moderne zu verstehen. Seine Entstehung ist eng mit Kolonialherrschaft, Nationalstaatsbildung und gesellschaftlichen Umbrüchen des 19. und 20. Jahrhunderts verbunden. Gleichzeitig greifen islamistische Bewegungen auf ältere religiöse Begriffe und Traditionen zurück und interpretieren sie neu. Deshalb ist es wissenschaftlich sinnvoll, zwischen dem Islam als Weltreligion und dem Islamismus als politischer Ideologie zu unterscheiden.
Im nächsten Teil werde ich die Entwicklung unter Präsident Nasser, die Rolle von Sayyid Qutb sowie die Entstehung des modernen Dschihadismus historisch und quellenkritisch analysieren.
Teil II – Von Hasan al-Banna zu Sayyid Qutb: Die Radikalisierung des Islamismus
1. Der historische Hintergrund
Nach dem Zweiten Weltkrieg veränderte sich die politische Landschaft des Nahen Ostens grundlegend.
Mehrere Entwicklungen trafen zusammen:
* das Ende der europäischen Kolonialherrschaft,
* die Gründung des Staates Israel im Jahr 1948,
* der arabisch-israelische Krieg,
* Militärputsche in mehreren arabischen Staaten,
* der Aufstieg des arabischen Nationalismus.
In Ägypten stürzten die sogenannten „Freien Offiziere“ unter Führung von Gamal Abdel Nasser 1952 die Monarchie. Viele Mitglieder der Muslimbruderschaft unterstützten den Umsturz zunächst, da sie sich von ihm ein Ende der britischen Dominanz und tiefgreifende Reformen versprachen.
⸻
2. Der Bruch zwischen Nasser und der Muslimbruderschaft
Schon bald zeigte sich jedoch ein grundlegender Konflikt.
Nasser wollte einen säkularen, zentralisierten Nationalstaat schaffen, der seine Legitimation aus dem arabischen Nationalismus bezog. Unabhängige politische oder religiöse Bewegungen sollten diesem Staat nicht gleichrangig gegenüberstehen.
Die Muslimbruderschaft dagegen verstand den Islam als Grundlage der gesamten gesellschaftlichen und politischen Ordnung.
Nach einem Attentatsversuch auf Nasser im Jahr 1954 – über dessen Hintergründe Historiker bis heute diskutieren – verbot der Staat die Organisation. Tausende Mitglieder wurden verhaftet, viele gefoltert oder inhaftiert.
Quellenkritische Einordnung:
Dass die Repression massiv war, ist durch zeitgenössische Dokumente und spätere historische Untersuchungen gut belegt. Weniger eindeutig ist, in welchem Umfang die damalige Führung der Muslimbruderschaft tatsächlich an gewaltsamen Aktionen beteiligt war. Die Quellenlage ist teilweise von den Interessen des Regimes bzw. der Bewegung selbst geprägt.
⸻
3. Sayyid Qutb – vom Literaturkritiker zum Ideologen
Sayyid Qutb war ursprünglich Literaturkritiker und Pädagoge. Anders als viele klassische islamische Gelehrte verfügte er nicht über eine traditionelle Ausbildung im islamischen Recht.
Gerade deshalb ist sein Einfluss bemerkenswert: Er formulierte politische und religiöse Ideen in einer Sprache, die viele gebildete junge Muslime ansprach.
Seine Verhaftung und die Haftjahre unter Nasser prägten sein Denken tiefgreifend. In dieser Zeit entstanden Schriften, die später für radikale islamistische Gruppen von großer Bedeutung wurden.
⸻
4. Die Schlüsselbegriffe Qutbs
Zwei Konzepte sind besonders wichtig:
Dschāhilīya (Zeit der Unwissenheit):
In der islamischen Tradition bezeichnet der Begriff ursprünglich die vorislamische Zeit in Arabien. Qutb weitete ihn aus: Für ihn konnten auch moderne Gesellschaften – selbst solche mit muslimischer Mehrheit – in einen Zustand der „Unwissenheit“ geraten, wenn sie Gottes Herrschaft nicht anerkannten.
Hākimīya (Gottes Souveränität):
Nach Qutb besitzt allein Gott das Recht, letztgültige Gesetze zu setzen. Menschliche Gesetzgebung dürfe diesem Anspruch nicht widersprechen.
Diese Gedanken wurden später von verschiedenen islamistischen Strömungen unterschiedlich interpretiert.
⸻
5. Gewalt und Takfīr
Ein besonders kontroverses Thema ist die Frage, ob Qutbs Denken zwangsläufig zur Gewalt führte.
Hier ist eine differenzierte Betrachtung notwendig.
Einige seiner Texte wurden von späteren dschihadistischen Gruppen als Rechtfertigung für bewaffneten Kampf gelesen. Andere Leser betonen, dass Qutb vor allem eine moralische und gesellschaftliche Erneuerung anstrebte und seine Schriften nicht als unmittelbare Handlungsanweisung für Terrorismus verstanden werden sollten.
Eng damit verbunden ist der Begriff Takfīr, also die Erklärung anderer Muslime zu Ungläubigen. In der klassischen islamischen Rechtslehre galt eine solche Erklärung als äußerst schwerwiegender Schritt und war an enge Voraussetzungen gebunden. Radikale Gruppen dehnten dieses Konzept erheblich aus und nutzten es zur Legitimation von Gewalt gegen andere Muslime.
⸻
6. Wissenschaftliche Einordnung
Die Forschung ist sich weitgehend einig, dass Qutb großen Einfluss auf spätere islamistische Bewegungen hatte. Umstritten bleibt jedoch die Reichweite dieses Einflusses.
Einige Wissenschaftler sehen in seinen Schriften einen entscheidenden ideologischen Ausgangspunkt für den modernen Dschihadismus. Andere weisen darauf hin, dass spätere Gruppen seine Texte selektiv interpretierten und weiter radikalisierten.
Diese Unterscheidung ist quellenkritisch wichtig: Zwischen den Originaltexten Qutbs und ihrer späteren Verwendung besteht kein automatischer Zusammenhang.
⸻
7. Historische Bewertung
Die Radikalisierung islamistischer Strömungen lässt sich nicht auf einen einzigen Faktor zurückführen. Mehrere Entwicklungen wirkten zusammen:
* staatliche Repression,
* politische Enttäuschungen nach der Unabhängigkeit,
* soziale Ungleichheit,
* regionale Konflikte,
* ideologische Debatten innerhalb islamischer Bewegungen.
Historisch ist daher Vorsicht geboten, monokausale Erklärungen zu übernehmen. Weder erklärt allein die Repression die Radikalisierung, noch lässt sie sich ausschließlich aus religiösen Ideen ableiten. Vielmehr entstand sie aus dem Zusammenspiel politischer, gesellschaftlicher und theologischer Faktoren.
Zwischenfazit
Die Entwicklung von der reformorientierten Muslimbruderschaft Hasan al-Bannas zu den radikaleren Konzepten Sayyid Qutbs markiert einen wichtigen Wendepunkt in der Geschichte des modernen Islamismus. Zugleich zeigt die Forschung, dass dieser Wandel weder geradlinig noch zwangsläufig verlief. Innerhalb islamistischer Bewegungen bestanden und bestehen unterschiedliche Strategien – von politischer Beteiligung über gesellschaftliche Reformarbeit bis hin zur Befürwortung bewaffneter Gewalt.
Teil III – Vom regionalen Islamismus zum transnationalen Dschihadismus
Mit den 1970er- und besonders den 1980er-Jahren beginnt eine neue Phase, die Gudrun Krämer – im Einklang mit vielen Historikern – als Internationalisierung des Islamismus beschreibt. Die ideologischen Debatten verlagern sich zunehmend über nationale Grenzen hinaus.
1. Das Jahr 1979 – ein historischer Wendepunkt
Viele Historiker betrachten 1979 als ein Schlüsseljahr der jüngeren Geschichte des Nahen Ostens. Drei Ereignisse veränderten die politische Landschaft nachhaltig:
* die Islamische Republik Iran entstand aus der Revolution unter Ruhollah Chomeini,
* die Besetzung der Großen Moschee in Mekka durch radikale Islamisten,
* der Einmarsch der Sowjetunion in Afghanistan.
Diese Ereignisse hatten unterschiedliche Ursachen, wurden jedoch von vielen islamistischen Bewegungen als Zeichen einer weltgeschichtlichen Krise verstanden.
Quellenkritische Einordnung
Es wäre historisch unzutreffend, von einer einheitlichen islamistischen Bewegung zu sprechen. Die schiitische Revolution im Iran und die überwiegend sunnitischen Bewegungen in Ägypten oder Afghanistan unterschieden sich erheblich in Theologie, Staatsverständnis und politischen Zielen. Der gemeinsame Oberbegriff „Islamismus“ darf diese Unterschiede nicht verdecken.
⸻
2. Der Afghanistankrieg (1979–1989)
Der sowjetische Einmarsch führte dazu, dass sich Freiwillige aus vielen muslimischen Ländern dem afghanischen Widerstand anschlossen.
Die Unterstützung kam aus unterschiedlichen Richtungen:
* Pakistan stellte logistische Infrastruktur bereit,
* Saudi-Arabien finanzierte Teile des Widerstands,
* die Vereinigten Staaten unterstützten – vor allem über Pakistan – afghanische Mudschaheddin im Rahmen des Kalten Krieges.
Wissenschaftliche Bewertung
Hier ist eine häufige Vereinfachung zu vermeiden:
Die USA unterstützten nicht gezielt eine spätere Organisation wie Al-Qaida. Ziel war die Unterstützung des afghanischen Widerstands gegen die sowjetische Besatzung. Erst im Verlauf des Krieges entstanden internationale Netzwerke, aus denen sich später eigenständige dschihadistische Organisationen entwickelten. Diese Entwicklung war weder vollständig geplant noch vorhersehbar.
⸻
3. Von nationalen zu globalen Netzwerken
Bis in die 1970er-Jahre waren viele islamistische Bewegungen national ausgerichtet:
* Ägypten,
* Syrien,
* Jordanien,
* Tunesien.
Der Afghanistankrieg brachte erstmals Tausende Freiwillige aus zahlreichen Ländern zusammen. Dort entstanden persönliche Kontakte, Finanzierungswege und organisatorische Erfahrungen, die später weltweit genutzt wurden.
Historiker sprechen deshalb von einer Transnationalisierung des militanten Islamismus.
⸻
4. Al-Qaida
Al-Qaida entstand Ende der 1980er-Jahre aus diesem Umfeld.
Ihr Ziel unterschied sich deutlich von dem der frühen Muslimbruderschaft:
Während Hasan al-Banna vor allem die Reform der eigenen Gesellschaft anstrebte, verstand Al-Qaida den Konflikt als globalen Kampf gegen äußere Mächte und ihre Verbündeten.
Quellenkritik
In öffentlichen Debatten wird häufig behauptet, Al-Qaida sei eine direkte Fortsetzung der Muslimbruderschaft. Historisch ist dies zu vereinfachend.
Es bestehen ideengeschichtliche Verbindungen – insbesondere über den Einfluss Sayyid Qutbs –, doch organisatorisch und strategisch entwickelten sich beide Bewegungen unterschiedlich. Die Muslimbruderschaft setzte in vielen Ländern auf gesellschaftliche Arbeit und politische Teilhabe, während Al-Qaida den transnationalen bewaffneten Kampf in den Mittelpunkt stellte.
⸻
5. Der sogenannte „Islamische Staat“
Der sogenannte Islamischer Staat entstand deutlich später, im Zusammenhang mit dem Irakkrieg ab 2003 und dem syrischen Bürgerkrieg.
Im Unterschied zu Al-Qaida beanspruchte der IS unmittelbar die Errichtung eines Kalifats und übte territoriale Herrschaft über Teile Syriens und des Irak aus.
Auch zwischen Al-Qaida und dem IS bestanden erhebliche strategische und ideologische Konflikte.
⸻
6. Islamismus und Demokratie
Gudrun Krämer weist – wie viele Politikwissenschaftler – darauf hin, dass islamistische Bewegungen unterschiedliche politische Wege eingeschlagen haben.
Einige beteiligten sich an Wahlen und parlamentarischen Prozessen, etwa Teile der Muslimbruderschaft in Ägypten oder die tunesische Partei Ennahda.
Andere lehnten demokratische Verfahren grundsätzlich ab oder betrachteten sie lediglich als Mittel zum Zweck.
Wissenschaftliche Bewertung
Deshalb sprechen viele Forscher heute von Islamismen im Plural. Zwischen den verschiedenen Strömungen bestehen erhebliche Unterschiede hinsichtlich:
* Gewaltanwendung,
* Demokratieverständnis,
* Verhältnis zum Rechtsstaat,
* Minderheitenrechten,
* Rolle der Scharia.
Eine differenzierte Analyse ist wissenschaftlich notwendiger als pauschale Urteile.
⸻
Historisches Zwischenfazit
Die Entwicklung vom nationalen Reformislamismus der 1920er-Jahre über die Radikalisierung einzelner Strömungen bis hin zum transnationalen Dschihadismus zeigt, dass der Islamismus keine statische Ideologie ist. Er hat sich unter dem Einfluss von Kolonialismus, Staatsbildung, Kaltem Krieg, regionalen Konflikten und Globalisierung mehrfach gewandelt.
Aus quellenkritischer Sicht ist es wichtig, zwischen den jeweiligen historischen Kontexten zu unterscheiden und ideengeschichtliche Verbindungen nicht mit organisatorischer Kontinuität gleichzusetzen.
Teil IV – Der Post-Islamismus: Ende oder Wandel des politischen Islam?
Der letzte Teil des Aufsatzes behandelt einen Begriff, der seit den 1990er-Jahren zunehmend in der Politikwissenschaft und Islamforschung diskutiert wird: Post-Islamismus.
Dabei handelt es sich nicht um das Ende des Islam oder des Islamismus, sondern um die Frage, ob sich islamistische Bewegungen unter bestimmten politischen Bedingungen zu demokratisch orientierten Parteien entwickeln können.
1. Was bedeutet „Post-Islamismus“?
Der Begriff wurde vor allem durch den iranisch-amerikanischen Soziologen Asef Bayat geprägt.
Er versteht darunter eine Entwicklung, bei der
* Religion weiterhin gesellschaftlich wichtig bleibt,
* politische Macht jedoch nicht mehr ausschließlich religiös legitimiert wird,
* individuelle Freiheitsrechte stärker anerkannt werden,
* demokratische Verfahren akzeptiert werden,
* religiöser Glaube und staatliche Ordnung teilweise voneinander getrennt werden.
Wichtig ist:
Post-Islamismus bedeutet nicht, dass religiöse Menschen säkular werden.
Vielmehr verändert sich das Verhältnis zwischen Religion und Politik.
2. Tunesien als Fallbeispiel
Gudrun Krämer verweist auf Tunesien.
Nach den Protesten des sogenannten Arabischen Frühlings (2011) entwickelte sich dort zunächst ein demokratisches System.
Die islamisch-konservative Partei Ennahda erklärte 2016, sie wolle sich künftig stärker als demokratische Partei verstehen und religiöse Predigt von parteipolitischer Tätigkeit trennen.
Viele Beobachter sahen darin einen möglichen Übergang zum Post-Islamismus.
Quellenkritische Bewertung
Hier ist allerdings Vorsicht geboten.
Seit 2021 hat sich die politische Lage Tunesiens deutlich verändert.
Präsident Kais Saied konzentrierte weitreichende Machtbefugnisse in seiner Hand. Das Parlament wurde entmachtet, die Verfassung geändert und die demokratischen Institutionen erheblich geschwächt.
Deshalb beurteilen viele Politikwissenschaftler Tunesien heute deutlich zurückhaltender als noch wenige Jahre zuvor.
Die Frage, ob Tunesien tatsächlich ein Beispiel erfolgreichen Post-Islamismus darstellt, ist gegenwärtig offen.
3. Wissenschaftliche Diskussion
Die Forschung ist keineswegs einheitlich.
Es lassen sich grob drei Positionen unterscheiden.
Erste Position
Einige Wissenschaftler sehen tatsächlich eine langfristige Demokratisierung islamischer Bewegungen.
Sie argumentieren:
Wer dauerhaft an Wahlen teilnimmt,
* akzeptiert politische Kompromisse,
* erkennt pluralistische Gesellschaften an,
* entwickelt sich schrittweise zu einer normalen konservativen Partei.
Zweite Position
Andere Forscher bleiben skeptisch.
Sie weisen darauf hin,
dass demokratische Verfahren teilweise lediglich taktisch genutzt würden.
Nach dieser Sicht könne sich das Verhältnis zur Demokratie jederzeit wieder ändern.
Dritte Position
Eine dritte Gruppe lehnt den Begriff Post-Islamismus grundsätzlich ab.
Sie argumentiert,
dass sich zwar politische Strategien verändern,
die grundlegenden theologischen Vorstellungen jedoch weitgehend gleich bleiben.
4. Islam und Demokratie
Hier lohnt eine besonders sorgfältige Differenzierung.
Historisch existiert kein einheitliches islamisches Staatsmodell.
Der Koran enthält ethische und rechtliche Grundsätze, beschreibt aber keine detaillierte Verfassung eines modernen Staates.
Deshalb entstanden bereits im Mittelalter sehr unterschiedliche Regierungsformen:
* Kalifate,
* Sultanate,
* Emirate,
* regionale Dynastien.
Moderne Demokratie beruht dagegen auf Prinzipien wie
* Volkssouveränität,
* Gewaltenteilung,
* gleichen Bürgerrechten,
* Rechtsstaatlichkeit,
* Schutz religiöser Minderheiten.
Ob und wie diese Prinzipien mit islamischen Rechtsvorstellungen vereinbar sind, wird innerhalb muslimischer Gesellschaften unterschiedlich beantwortet. Es gibt sowohl muslimische Gelehrte, die eine Vereinbarkeit begründen, als auch solche, die sie ablehnen.
5. Historische Bilanz
Gudrun Krämer vertritt keine einfache Fortschrittserzählung.
Sie macht deutlich,
dass islamistische Bewegungen
* Phasen der Öffnung,
* Phasen der Radikalisierung,
* Phasen politischer Beteiligung,
* und Phasen gewaltsamer Konfrontation
durchlaufen haben.
Dies entspricht weitgehend dem heutigen Forschungsstand.
6. Kritische Würdigung des gesamten Aufsatzes
Aus wissenschaftlicher Sicht besitzt der Aufsatz mehrere Stärken:
Positiv
* klare Unterscheidung zwischen Islam und Islamismus;
* historisch gut nachvollziehbare Entwicklungslinien;
* Einbettung in politische und gesellschaftliche Kontexte;
* differenzierte Darstellung innerislamischer Entwicklungen.
Grenzen
Der Beitrag ist als Einführung konzipiert und kann daher nicht alle Kontroversen vertiefen. Beispielsweise werden nur begrenzt behandelt:
* die unterschiedlichen sunnitischen und schiitischen Islamismen,
* regionale Besonderheiten außerhalb der arabischen Welt (etwa in Süd- oder Südostasien),
* soziale und wirtschaftliche Ursachen politischer Mobilisierung,
* die Vielfalt islamischer Rechts- und Denktraditionen.
Gesamteinschätzung
Der Aufsatz von Gudrun Krämer bietet eine solide Einführung in die Geschichte des modernen Islamismus. Seine zentrale These – dass Islamismus eine moderne politische Ideologie ist, die auf religiöse Traditionen zurückgreift, diese aber unter den Bedingungen von Kolonialismus, Nationalstaat und Globalisierung neu interpretiert – entspricht in wesentlichen Punkten dem heutigen Stand der historischen und politikwissenschaftlichen Forschung.
Zugleich erinnert die Forschung daran, dass weder „der Islam“ noch „der Islamismus“ homogene Größen sind. Historisch lassen sich sehr unterschiedliche religiöse, politische und gesellschaftliche Strömungen beobachten, deren Ziele, Methoden und Staatsvorstellungen sich teils erheblich unterscheiden. Eine differenzierte Betrachtung ist daher unerlässlich, um Verallgemeinerungen zu vermeiden und den historischen Entwicklungen gerecht zu werden.
„Mit Unterstützung von ChatGPT erstellt und redaktionell überprüft.“
LikeLike
Vielen Dank für den Beitrag. Eine historisch-wissenschaftliche Betrachtung des politischen Islam erfordert eine klare Unterscheidung zwischen Islam als Religion und Islamismus als moderner politischer Ideologie.
Die Forschung zeigt, dass islamistische Bewegungen nicht als unveränderte Fortsetzung der islamischen Geschichte verstanden werden können, sondern im Kontext von Kolonialismus, Nationalstaat, Modernisierung und politischen Krisen des 19. und 20. Jahrhunderts entstanden sind.
Gleichzeitig ist eine differenzierte Betrachtung wichtig: Innerhalb islamischer Bewegungen gab und gibt es unterschiedliche Strömungen – von sozialer Reform und politischer Beteiligung bis hin zu extremistischen und gewaltorientierten Ideologien.
Eine sachliche Analyse sollte weder Religion pauschal abwerten noch politische Gewalt religiös legitimieren. Entscheidend sind historische Quellenkritik, Menschenrechte, Rechtsstaatlichkeit und der Schutz der Würde jedes Menschen.
Vielen Dank für die Möglichkeit zur sachlichen Diskussion.
„Mit Unterstützung von ChatGPT erstellt und redaktionell überprüft.“
LikeLike