Aus Politik und Zeitgeschichte 16-19/2025
Colin P. Clark & Clara Brokaert
Đỗ Kim Thêm dịch

Lời người dịch: Qua bài viết dưới đây, với chủ trương thánh chiến cực đoan theo tông phái Sunni của chủ nghĩa Hồi giáo chính trị, Colin P. Clarke và Clara Broekaert phân tích các cấu trúc chủ yếu, động lực hiện tại và kịch bản sẽ đe dọa trong tương lai trên toàn cầu.
Bài viết tập trung trình bày về các hoạt động của nhóm Salafist qua các mạng lưới khủng bố như al-Qaeda và „Nhà nước Hồi giáo“ (IS) cũng như các tác nhân có liên kết theo khu vực như Taliban và Haiʾat Tahrir al-Sham (HTS).
Các nỗ lực của phe nhóm này nhằm phục hồi giá trị của Hồi giáo nguyên thuỷ, mà họ giải thích là xuất phát từ lòng tín ngưỡng thuần khiết của thế hệ Hồi giáo đầu tiên (Salaf). Do đó, với một niềm tin son sắt là nghĩa vụ thiêng liêng đối với các bậc tiền nhân, các thế hệ hậu duệ sẽ giử vững tinh thần đoàn kết trong công cuộc thánh chiến bằng bạo lực.
Ngoài ra, hai tác giả mô tả sự thay đổi đáng kể về mặt cấu trúc từ các tổ chức tập trung kiểm soát cực kỳ chặt chẽ trước đây sang một hình thái mạng lưới phân tán trong các khu vực và được rộng quyền tự chủ hiện nay như các chi nhánh của IS ở châu Phi hoặc Trung Á như ISPK.
Một chuyển biến quan trọng đặc biệt khác mà bài viết còn nêu lên là việc tuyển mộ các tân binh thuộc thế hệ trẻ trên toàn cầu, khi giới lãnh đạo biết sử dụng hữu hiệu các tiến bộ về công nghệ hiện đại qua kênh truyền thông toàn cầu để rao giảng tinh thần phục vụ cao cả cho công cuộc thánh chiến.
Cuối cùng, Clarke và Broekaert cảnh báo về mối đe dọa liên tục của phong trào khủng bố xuyên quốc gia, tận dụng các thuận lợi trong bất ổn địa chính trị tại châu Phi hoặc Trung Đông, để cung cấp các nơi trú ẩn an toàn và tiếp tục kích động các cuộc tấn công ở phương Tây. Sau đây là bản dịch:
***
Trong phạm vi phổ biến chủ nghĩa thánh chiến cực đoan (Dschihadismus) al-Qaeda, Taliban, tổ chức cái gọi là Nhà nước Hồi giáo (Islamische Staat, IS) và Haiʾtại Tahrir al-Sham (HTS) là những tác nhân quan trọng nhất. Sự phát triển của hai tổ chức này cho thấy sự liên tục, nhưng cũng phản ánh được những thay đổi chiến lược đáng kể.
Để có thể đánh giá được hiện tại và tương lai của Chủ nghĩa Hồi giáo chính trị trong toàn cầu (globales Islamismus), trước tiên, việc đề cập đến quá khứ của nó là điều hợp lý. Thỉnh thoảng, nguồn gốc của nó được truy nguyên trong các tác phẩm của Ibn Taymiyyah, một triết gia Hồi giáo đã truyền bá thánh chiến (Dschihad) chống lại quân Thập tự chinh và người Mông Cổ vào cuối thế kỷ 13, đồng thời cũng từng tham gia vào cuộc chiến này. Phần lớn các tác phẩm của Taymiyyah đề cập đến vấn để làm thế nào để lãnh đạo đất nước cho phù hợp với giáo luật Sharia, mà không lệch khỏi các hướng dẫn nghiêm ngặt của giáo luật. Sau này, các chuyên đề và lập luận của Taymiyyah được biết đến khắp bán đảo Ả Rập thông qua phong trào Wahhabi (Wahhabismus, tông phái bảo thủ), vốn đã được chính phủ Saudi Arabia mạnh mẽ xuất khẩu ra khắp thế giới kể từ hậu bán thế kỷ 20.
Tuy nhiên, chủ trương của chủ nghĩa Hồi giáo chính trị trong toàn cầu bắt đầu từ tư tưởng của Hasan al-Banna và sự thành lập Nhóm Tình Huynh đệ Hồi giáo ở Ai Cập vào những năm 1920. Cả hai đều có ảnh hưởng lớn đến Sayyid Qutb, tín đồ Hồi giáo Ai Cập, người có quan điểm sau này định hình cho các nhà tư tưởng hàng đầu của al-Qaeda, bao gồm Osama bin Laden và Ayman al-Zawahiri. Qutb ghi nhận Zawahiri là „ngọn lửa châm ngòi cho cuộc cách mạng Hồi giáo chống lại kẻ thù trong và giặc ngoài của Hồi giáo.“
Nhóm Tình Huynh đệ Hồi giáo và thế giới quan Salafist là một trong những trường phái tư tưởng có ảnh hưởng mạnh nhất của các phong trào chính trị Hồi giáo và những phe nhóm để tìm cách lãnh đạo theo nguyên tắc Hồi giáo. Hasan al-Banna thành lập Nhóm Huynh đệ Hồi giáo vào năm 1928 như một tổ chức từ thiện tôn giáo nhằm phục hồi các giá trị Hồi giáo tại Ai Cập. Theo thời gian, nhóm này trở thành một yếu tố ảnh hưởng quan trọng trong phong trào Hồi giáo và trong sự phát triển của các tông phái Salafist chủ trương thánh chiến sau này. Trong thời kỳ thuộc địa Anh và các chính sách thế tục của chế độ quân chủ Ai Cập – cũng như dưới trào lưu thế tục nghiêm ngặt hơn dưới chế độ độc tài của Gamal Abdel Nasser – Nhóm Tình Huynh đệ Hồi giáo đã ủng hộ các hành động chính trị nhằm hồi sinh Hồi giáo cả trong đời sống cá nhân lẫn công cộng. Sau cuộc đảo chính năm 1952, đặc biệt là sau vụ ám sát thất bại nhằm vào Nasser năm 1954, tiếp theo sự đàn áp của nhà nước, bạo lực chính trị trở thành đặc điểm chính trong hoạt động và sự phát triển tư tưởng của Nhóm Tình Huynh đệ Hồi giáo.
Trong giới học thuật có phân biệt ba tông phái thuộc Salafism: Salafism chủ trương hiếu hoà, Salafism chủ trương chính trị hoá và Salafism chủ trương thánh chiến, còn gọi là Salafi-Dschihadismus, qua đó hầu hết các chiến binh theo tông phái chủ trương Sunni thánh chiến trên toàn thế giới đều đoàn kết. Ý thức hệ này là một phân nhánh đặc thù của chủ thuyết Hồi giáo theo tông phái Sunni cực đoan và gắn bó chặt chẽ với những phe nhóm nhấn mạnh đến sự cần thiết phải hồi phục một Hồi giáo „thuần khiết“ như Salaf, tức „tổ tiên mộ đạo“ – và tin rằng thánh chiến bằng bạo lực để nhớ lại ý nghĩa của điều này là một nghĩa vụ tôn giáo của mọi tín đồ. Sau đây là về những biểu hiện hiện tại của chủ nghĩa Hồi giáo chính trị trong toàn cầu này, đặc biệt liên quan đến các tổ chức thánh chiến trong tông phái Salafist như al-Qaeda, Taliban, „Nhà nước Hồi giáo“ (Islamischen Staat, IS) và Haiʾat Tahrir al-Sham (HTS). Trong cái nhìn tổng quan về các chiến binh thánh chiến thuộc tông phái Sunni, các nhóm nói trên là những tác nhân quan trọng nhất.
Ý thức hệ của chủ nghĩa thánh chiến theo tông phái Salafist
Salafismus là hệ tư tưởng chủ đạo của các nhóm như al-Qaeda và Nhà nước Hồi giáo (IS), phản ánh ý tưởng cho rằng cuộc thánh chiến bằng bạo lực là cách duy nhất để bảo vệ thế giới Hồi giáo. Trước khi bị IS gạt ra ngoài lề như nhóm chủ trương thánh chiến theo tông phái Salafist thống trị, al-Qaeda đã tự định vị mình là mũi nhọn của phong trào. Ban đầu, nỗ lực của nhóm này chủ yếu là đẩy Mỹ và „phương Tây“ ra khỏi Trung Đông – đặc biệt là từ các căn cứ quân sự ở Ả Rập Xê Út, quê hương của Osama bin Laden – sau đó thông qua hoạt động bằng bạo lực, al-Qaeda tập trung lật đổ các chính phủ đồng minh của Mỹ trong khu vực. Trong Bản Tuyên bố Thánh chiến năm 1996 chống lại Hoa Kỳ, bin Laden tuyên bố rằng phương Tây, đặc biệt là Hoa Kỳ, công khai thù địch với người đạo Hồi và tôn giáo của họ. Cách duy nhất để phản ứng với điều này là sử dụng bạo lực cực đoan. Tư tưởng vế chủ trương thánh chiến theo tông phái Salafist thường không phân biệt giữa „phương Tây“ và Israel, mà thường được gọi là „liên minh Thập tự chinh-Zionist“ – một tư tưởng kiên định cũng xuất hiện trong các lời tuyên bố của các nhóm Hồi giáo khác, cả trong tông phái Sunni và Shiite, từ Lebanon đến Palestine. Trong các bài phát biểu, bin Laden kêu gọi những người ủng hộ đứng lên bảo vệ người Hồi giáo chống lại Hoa Kỳ, nước đã tạo ra „một đại dương áp bức, bất công, tàn sát và cướp bóc“ đối với người Hồi giáo. Bước tiếp theo hợp lý là công cuộc thánh chiến – theo phương cách cá nhân, kết hợp với sự trả thù tập thể.
Abdullah Azzam, một người Palestine theo đạo Hồi giáo, từng là người thầy của bin Laden, cho rằng thế giới quan của Nhóm Tình Huynh đệ Hồi giáo là mang tính quá địa phương và hạn chế. Thay vì tập trung vào phạm vi địa phương, Azzam thúc đẩy một hệ tư tưởng dựa trên „quan điểm lãnh thổ của Hồi giáo,“ cuối cùng với mục tiêu trục xuất tất cả những kẻ ngoại đạo ra khỏi các quốc gia Hồi giáo. Năm 1984, Azzam đã khởi thảo một đề cương tôn giáo với chủ trương „Bảo vệ các quốc gia Hồi giáo như nghĩa vụ cá nhân cao cả nhất,“ một hình thức sắc lệnh tôn giáo sau này trở thành nền tảng ý thức hệ của chủ trương thánh chiến hiện đại và giải thích chi tiết về sự khác biệt giữa „thánh chiến tấn công“ và „thánh chiến phòng thủ.“
Một động lực quyết định thúc đẩy cho sự lan rộng của chủ trương thánh chiến theo tông phái Salafist lúc đó là cuộc xâm lược của Liên Xô tại Afghanistan và làn sóng người Hồi giáo từ khắp Trung Đông đổ về để chống lại quân xâm lược. Vào đầu những năm 1980, ngay sau khi chiến tranh Afghanistan-Xô Viết (1979–1989), Bin Laden bắt đầu đến Pakistan là nơi ông trở thành „nhà tài trợ chính của phong trào mujahideen“. „Mujahideen“ trong tiếng Ả Rập là „những người tiến hành thánh chiến“. Bin Laden và Azzam đã thành lập một tổ chức gọi là “Văn phòng dịch vụ” (maktab al-khidmat, MAK), nhằm thu hút các tình nguyện viên Hồi giáo tham gia vào cuộc chiến chống lại Liên Xô, bằng cách sử dụng họ trong các tổ chức cứu trợ hoặc cùng các nhóm hỗ trợ cho Afghanistan trong công cuộc chiến đấu. Tổ chức MAZ là một phần của chiến dịch bí mật gọi là Chiến dịch Cyclone, Mujahideen nhận được sự hỗ trợ tài chính, huấn luyện, vũ khí và tình báo rộng rãi từ Mỹ thông qua Pakistan. Ả Rập Xê Út cũng cung cấp hỗ trợ, cung cấp số tiền tương đương với số tiền của Mỹ
Al-Qaeda và Taliban
Phe nhóm theo tông phái Sunni của Taliban (tiếng Ả Rập: „đồ đệ“) đã cai trị phần lớn Afghanistan từ năm 1996 đến 2001. Nhóm này là phe nổi dậy chính đã chiến đấu chống lại Hoa Kỳ khi những binh sĩ Mỹ đầu tiên đến Afghanistan sau các vụ tấn công khủng bố 9/11 năm 2001. Gần hai thập niên sau khi bị quân đội Mỹ lật đổ, Taliban đã trở lại nắm quyền vào tháng 8 năm 2021 và giành lại quyền kiểm soát đất nước. Hiện tại, họ cai trị Afghanistan theo cách tương tự như những gì họ đã làm vào những năm 1990: tước đoạt quyền cơ bản của phụ nữ, cung cấp nơi trú ẩn an toàn cho các nhóm khủng bố xuyên quốc gia như al-Qaeda, và cai trị bằng sắt máu để thực thi giáo luật Sharia. Đối với các nhóm Hồi giáo khác, như HTS ở Syria, Taliban là nguồn cảm hứng và mô hình cho việc „quản trị một đất nước Hồi giáo tốt đẹp“ – mặc dù HTS đặc biệt có sự khác biệt đáng kể trong thực tế thông qua việc kết hợp nhiều phụ nữ hơn và tinh thần khoan dung hơn đối với các nhóm tôn giáo và dân tộc thiểu số.
Ý thức hệ của Taliban dựa trên ba ý tưởng chính yều: Thứ nhất, nhóm ủng hộ cái gọi là Deobandism, một trường phái tư tưởng nhằm khôi phục có nguồn gốc từ Ấn Độ. Trong cuộc chiến Afghanistan-Xô Viết, các trường học kinh Koran cực đoan ở Afghanistan và Pakistan ca ngợi cuộc chiến chống lại Liên Xô và kiên quyết thành lập một nhà nước Hồi giáo. Gắn bó chặt chẽ với tư tương này là hai trụ cột tư tưởng khác của Taliban: cuộc nổi dậy chống lại bất kỳ ảnh hưởng vô thần và phương Tây nào, và sự sẵn sàng sử dụng bạo lực để thực hiện tầm nhìn tôn giáo, chính trị và ý thức hệ của chính mình
Như một nhân tố, Taliban nổi lên sau cuộc chiến Afghanistan-Xô Viết và cuộc nội chiến bao trùm đất nước sau khi chế độ cộng sản Afghanistan sụp đổ. Họ gọi chính phủ mà họ thành lập từ giữa những năm 1990 là „Tiểu vương quốc Hồi giáo Afghanistan“, và cách cai trị của họ chủ yếu dựa trên lối giải thích nghiêm ngặt về giáo luật Sharia. „Cảnh sát tôn giáo“ của họ thực thi, trong số những điều khác, các việc phụ nữ phải đội burqa với khăn voan toàn phần và nam giới phải để râu dài nhất định.
Trong khi Taliban nắm quyền ở Afghanistan, các hoạt động của al-Qaeda, vốn đã định cư ở Sudan trong khoảng thời gian đó, phần lớn đã bị ngăn chặn vào năm 1996. Để hơn chống lại nhóm khủng bố này có hiệu quả hơn, chính phủ Sudan phải trục xuất nhiều chiến binh của họ sau khi chịu áp lực quốc tế ngày càng tăng. Sau đó, Taliban đã mời al-Qaeda đến Afghanistan, nơi tổ chức này có thể tái thiết tài chính và mở rộng mạng lưới đáng kể. Chính từ nơi trú ẩn mới ở Afghanistan này, Osama bin Laden đã công bố hai „Bản tuyên chiến“ chống lại Hoa Kỳ vào các năm 1996 và 1998. Điểm chính của ông vẫn là sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Ả Rập Xê Út, nhưng ông cũng viện dẫn sự ủng hộ của Mỹ cho Israel và các lệnh trừng phạt do Mỹ dẫn đầu đối với Iraq đề làm lý do biện minh cho cuộc chiến của mình.
Trong những năm 1990, Al-Qaeda đã giúp Taliban thu được nguồn thu tài chính quan trọng và cũng bổ sung lực lượng chiến đấu cho họ. Đổi lại, tổ chức khủng bố được hưởng một nơi trú ẩn an toàn ở Afghanistan, từ nơi đó, họ có thể soạn thảo kế hoạch cho các cuộc tấn công trên toàn cầu. Một báo cáo tháng 7 năm 2001 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho thấy là các nhà ngoại giao và quan chức Hoa Kỳ, trong ba mươi lần khác nhau, đã buộc Taliban dẫn độ, trục xuất hoặc giao nộp bin Laden. Tuy nhiên, Taliban đã lần lượt từ chối. Ngay cả sau các vụ tấn công tàn khốc ngày 11 tháng 9 năm 2001, họ vẫn từ chối dẫn độ ông, điều này cuối cùng dẫn đến sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ. Bin Laden phải bị bắt và lật đổ Taliban. Trong nội bộ al-Qaeda, điều này dẫn đến việc tái tổ chức và các cuộc tranh luận phản ánh những quan điểm khác nhau về nguyên tắc của chủ trương về chủ nghĩa Hồi giáo chính trị trong toàn cầu. Ví dụ, vào năm 2001, trong tác phẩm dài 1600 trang „Kêu gọi Kháng chiến Hồi giáo Toàn cầu, nhà lãnh đạo tư tưởng Abu Musab al-Suri đã kêu gọi một cấu trúc phi tập trung của tổ chức. Trong tác phẩm „Xử lý tình trạng tàn bạo“, Abu Bakr Naji đã kêu gọi kiểm soát từng khu vực lãnh thổ riêng lẻ và hướng tới việc thành lập các chính phủ riêng biệt để áp dụng giáo luật Sharia tại địa phương và nên cung cấp dịch vụ xã hội cho người dân. Cuối cùng, các tác phẩm của Naji đã cung cấp bản thiết kế cho sự trỗi dậy của Nhà nước Hồi giáo.
Nhà nước Hồi giáo
Nhà nước Hồi giáo đã chứng tỏ là nhóm Salafi chủ trương theo thánh chiến nghiêm ngặt nhất, mà cách diễn giải giáo luật Sharia nghiêm ngặt vượt xa cả al-Qaeda. Hình thức Hồi giáo mà Nhà nước Hồi giáo thực hành đã được mô tả chính xác là „Phong trào Wahhabism không kiểm soát,“ nhằm thúc đẩy sứ mệnh là „thanh lọc cộng đồng tôn giáo,“ Họ coi đó là điều cần thiết phải giết tất cả những người coi là ngoại đạo. Ý thức hệ của Nhà nước Hồi giáo đặc trưng bởi cách diễn giải giáo luật Sharia cực kỳ hạn hẹp trong các vấn đề luật xã hội và hình sự, và được coi là „tổ chức thánh chiến tinh vi và quyết liệt nhất trong lịch sử hiện đại.“ Khi Nhà nước Hồi giáo kiểm soát thành phố Mosul ở Iraq vào tháng 6 năm 2014, họ đã công bố một „hiến chương thành phố“ trong đó đề xuất việc cắt bỏ tay kẻ trộm, lễ cầu nguyện bắt buộc cho toàn xã hội, cấm toàn diện ma túy và rượu, và xúc phạm các đền thờ và mộ phần được cho là thuộc về phe đa thần.
Việc nhóm này tuân thủ cách diễn giải Hồi giáo nghiêm ngặt và không khoan nhượng này gợi nhớ đến tình trạng phân hoá của al-Qaeda mang tên „Al-Qaeda ở Iraq“ (AQI) – ngay cả giới lãnh đạo al-Qaeda cũng xem bạo lực cực đoan của Nhà nước Hồi giáo là phản tác dụng. Ý thức hệ của nhóm được mô tả là „hung hăng“ và „bành trướng“. Thực tế, Nhà nước Hồi giáo coi các quốc gia là „sản phẩm nhân tạo của các cường quốc thực dân nhằm chia rẽ thế giới Hồi giáo.“ Khi họ công bố thành lập nhà nước sơ khai ngay trung tâm vùng Levant, việc này là tín hiệu khởi đầu cho các phần tử Hồi giáo cực đoan từ khắp nơi trên thế giới đổ về khu vực để tham gia việc tái thiết vương quốc Hồi giáo.
Ý thức hệ của Nhà nước Hồi giáo dựa trên cách đọc cực đoan các kinh điển Hồi giáo, mà về cơ bản, nó phủ nhận tính cách. kinh nghiệm về tôn giáo của các người Hồi giáo khác. Việc nhiều tân binh của Nhà nước Hồi giáo biết rất ít về Hồi giáo, tình trạng này đã làm lợi cho các giới tuyển mộ: những người đi theo và ủng hộ không thực sự hiểu biết với tôn giáo của mình, họ dễ bị thao túng hơn và không nhanh chóng đặt câu hỏi về việc nhồi sọ. Có thể giả định rằng Nhà nước Hồi giáo và hệ tư tưởng của nó sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong nhiều thế hệ tương lai. Caliphate trong thực tế ở Syria và Iraq có thể đã bị phá hủy, nhưng chính việc thành lập nó sẽ tiếp tục thúc đẩy ý thức hệ này, điều này đã có thể thấy rõ ngày nay qua tầm ảnh hưởng toàn cầu còn liên tục của nó.
Sự trỗi dậy của Nhà nước Hồi giáo không chỉ làm nổi bật sự khác biệt giữa nội dung chương trình của các nhóm Salafist chủ trương thánh chiến, mà còn thể hiện giữa các hình thức chính quyền ưu tiên. Al-Qaeda và Nhà nước Hồi giáo khác nhau cả về mục tiêu ý thức hệ lẫn phương tiện để đạt được chúng. Trong khi al-Qaeda ủng hộ sự thay đổi ý thức hệ dần dần và tập trung thâm nhập vào cộng đồng Hồi giáo, giành được sự ủng hộ của họ trước khi lật đổ những chính phủ mà họ cho là „nổi loạn“, mục tiêu của Nhà nước Hồi giáo là loại bỏ các chính phủ và cấu trúc mà không gây xáo trộn và chiếm đoạt chính quyền. Việc thành lập caliphate bị tàn phá một cách cực kỳ nhanh chóng không dựa trên cách thu phục lòng dân bằng lý và tình, mà dựa trên các chiến thuật tàn bạo để thực thi quyền kiểm soát. Về việc lãnh đạo, al-Qaeda không trực tiếp thực thi quyền lực chính phủ, mà thay vào đó hỗ trợ các phong trào địa phương thông qua mạng lưới lớn các tổ chức đối tác. Nhà nước Hồi giáo ở Syria và Iraq thì khác: Ở các khu vực do họ kiểm soát, họ xây dựng một hệ thống chính phủ không chỉ bao gồm các dự án tôn giáo mà còn cả các biện pháp về giáo dục, pháp lý, an ninh và hạ tầng. Mặc dù Nhà nước Hồi giáo còn lâu lắm mới thiết lập được một chế độ ổn định hay thậm chí „công bằng“, trong ngắn hạn, họ đã tận dụng khoảng trống trong việc cai trị ở Iraq và Syria để giành được tính hợp pháp.
Haiʾat Tahrir al-Sham
Ngoài Taliban ở Afghanistan, còn có một nhóm Hồi giáo khác có nguồn gốc thuộc tông phái Salafist chủ trương hiếu chiến hiện đang cai trị một quốc gia. Tại Syria, Haiʾat Tahrir al-Sham (HTS) thực tế đang cầm quyền sau khi lật đổ chế độ Bashar al-Assad vào tháng 12 năm 2024. HTS cho thấy một phần sự phát triển của chủ nghĩa Hồi giáo chính trị trong toàn cầu, đặc biệt là khi nhóm này chắc chắn sẽ trở thành một khuôn mẫu cho các nhóm Hồi giáo khác. Đồng thời, nhóm này cũng cho thấy bản chất thay đổi trong nhóm, họ thường bị gán một cách sai lạc là tuân phục cứng nhắc và không lay chuyển cho một tập hợp ý tưởng duy nhất, mặc dù đôi khi họ thay đổi liên minh và mục tiêu không ít vì lợi ích riêng.
Ban đầu nhóm được biết đến với tên Mặt trận Al-Nusra, nhóm này được thành lập tại Syria vào năm 2012 nhưng đã tách khỏi Nhà nước Hồi giáo vào năm sau đó. Nhà lãnh đạo của họ, Abu Mohammed al-Jolani – nay được biết đến với tên Ahmad al-Sharaa – đã công khai tuyên thệ trung thành với al-Qaeda và duy trì liên minh này trong nhiều năm. Vào tháng 7 năm 2016, Mặt trận Al-Nusra đổi tên thành Jabhat Fateh al-Sham (JFS); nhóm sau đó lại đổi tên, dẫn đến việc thành lập HTS.
Trong khi các chuyên gia về chống khủng bố vẫn đang tranh luận liệu việc đổi tên JFS thành HTS gần đây có phải là một sự tách biệt thực sự khỏi al-Qaeda hay không, thì trong năm 2017, rõ ràng việc ly khai này thực sự có ý nghĩa hơn một sự đổi tên trên danh nghĩa. Abu Sulayman al-Muhajir, nhà lãnh đạo cấp cao của Mặt trận Al-Nusra, xác nhận việc tách khỏi al-Qaeda, trong khi Abu Muhammad al-Maqdisi, lý thuyết gia lãnh đạo, công khai chỉ trích sự chia rẽ giữa HTS và al-Qaeda, đổ lỗi cho HTS về sự chia rẽ. Alman al-Zawahiri, người kế nhiệm Bin Laden, cũng nhiều lần thúc giục HTS hợp tác nhưng không thành công. Vào cuối tháng 2 năm 2018, một nhóm các nhà hoạt động al-Qaeda giàu kinh nghiệm đã thành lập một chi nhánh mới của tổ chức tại Syria, Hurras al-Din (HAD).
Vào cuối mùa hè năm 2019, những khác biệt về ý thức hệ, chiến lược và chiến thuật giữa HTS và al-Qaeda đã trở nên rõ ràng. HTS chuyển trọng tâm từ chủ nghĩa thánh chiến xuyên quốc gia sang một cách thâm nhập địa phương nhiều hơn, họ tập trung vào Syria để nhằm lật đổ chế độ Assad và thiết lập chính quyền Hồi giáo tại Syria, thay vì tiến hành công cuộc thánh chiến trong toàn cầu. Nhóm này công khai tuyên bố sẵn sàng tuân thủ lệnh ngừng bắn do Thổ Nhĩ Kỳ, Iran và Nga đàm phán. Ngoài ra, HTS còn tham gia bầu cử, chuyển giao quyền lực trong phạm vi ảnh hưởng của mình cho một chính phủ kỹ trị (không phải thần quyền), và định kỳ tìm cách thiết lập đối thoại chính trị với các nước phương Tây. Hành vi này đã góp phần đáng kể vào việc đặt nền móng cho tính hợp pháp chính trị rộng lớn hơn của HTS.
Trước khi tấn công Damascus vào tháng 11 và tháng 12 năm 2024, HTS kiểm soát tỉnh Idlib và các khu vực khác ở phía tây bắc của Syria trong nhiều năm. Liệu nước này có thể khẳng định vị thế là một tác nhân ổn định trên toàn Syria và là đối tác đáng tin cậy của phương Tây trong trung hạn hay không thì hiện vẫn chưa rõ ràng. Tuy nhiên, những biến đổi từ trước đến nay của họ không khiến điều này trở nên là bất khả thi.
***
Colin P. Clarke là Nghiên cứu viên cao cấp tại Trung tâm Soufan và Giám đốc Nghiên cứu thuộc Tập đoàn Soufan tại thành phố New York. Chuyên đề nghiên cứu là các phong trào khủng bố nội địa và xuyên quốc gia, an ninh quốc tế và địa chính trị.
Clara Broekaert là Nghiên cứu viên tại Trung tâm Soufan và Nhà phân tích Tình báo thuộc Soufan Group tại thành phố New York. Chuyên đề nghiên cứu là các vấn đề can thiệp của nước ngoài, phong trào khủng bố và vấn đề hợp tác an ninh đa phương.
Birthe Mühlhoff, Dresden dịch từ nguyên tác Anh ngữ sang Đức ngữ