Volker Depkat
Đỗ Kim Thêm dịch

Hiện tình phân hoá dân chủ tại Mỹ, picture alliance / imageBROKER / Holger Weitzel
Các bậc quốc phụ Hoa Kỳ muốn thành lập một nền Cộng hòa chớ không phải một nền Dân chủ. Tuy nhiên, ngày nay, Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ hơn nhiều so với những mà gì các nhà cách mạng Mỹ muốn tưởng tượng trong những giấc mơ điên rồ nhất của họ – hoặc những cơn ác mộng. Đồng thời, có một vài nỗi sợ hãi tệ hại nhất liên hệ đến thuật ngữ „dân chủ“ trong thời cách mạng Mỹ dường như đang xảy ra trong hiện tại Ngay trong bài diễn văn từ biệt năm 1796 của George Washington, tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, ông đã cảnh báo cho đồng bào về „những tác động tai hại của tinh thần đảng phái“, mà nó có thể thúc đẩy cho người dân trong việc „tìm kiếm sự an toàn và yên tĩnh trong quyền lực tuyệt đối của cá nhân“. Washington tiếp tục cho rằng, dù sớm hay muộn, „thủ lĩnh của phe chiến thắng có khả năng hơn hoặc được thuận lợi hơn các đối thủ của mình“, họ sẽ sử dụng tâm trạng này để thiết lập một chế độ chuyên chế vĩnh viễn „trên đống đổ nát của tự do công cộng“.
Chính sự hiện diện của quá khứ cách mạng trong tình hình hiện tại của Mỹ mà tôi muốn khám phá trong bản phác thảo dưới đây. Đầu tiên bài viết sẽ bàn đến trí tưởng tượng về nền Cộng hòa của các bậc quốc phụ, sau đó là tiến trình dân chủ hóa cho nền Cộng hòa và cuối cùng là tình trạng một vài khiếm khuyết về nền dân chủ Hoa Kỳ ngày nay, mà nó được ghi vào Hiến pháp Hoa Kỳ.
Một nền Cộng hoà không phải là dân chủ
Khi giới lập hiến Hoa Kỳ nghĩ về nền dân chủ, nhiều người trong số họ đã nghĩ đến các loại hình thức cai trị của Aristotle. Như chúng ta đã biết rõ, điều này phân biệt giữa chế độ cai trị quân chủ, quý tộc và dân chúng Cứ mỗi một hình thức trong ba hình thức này, nó có một biến thể „tốt“, tức là phục vụ về an ninh, thịnh vượng và hòa bình cho tất cả mọi người, và một biến thể „xấu“, trong đó lợi ích công cộng không phải là nguyên tắc hướng dẫn cho hành động của các chính giới. Aristotle gọi sự cai trị của người dân trong biến thể tốt của nó là „πολιτεία“ (politeía) và „δημοκρατία“ (dēmokratía) trong biến thể xấu của nó. Trong biến thể tốt của sự cai trị của người dân, đó là những công dân có học thức, giàu có và có trách nhiệm theo đuổi lợi ích riêng của họ, nhưng đồng thời có thể trừu tượng hóa là họ cũng đưa ra các quyết định chính trị vì lợi ích chung. Mặt khác, trong biến thể xấu của sự cai trị của dân chúng mà họ không được giáo dục và có tài sản, họ không phù hợp cho công việc tự trị, mà chỉ lo theo đuổi những lợi ích riêng tư, nên cái giá phải trả là lợi ích công cộng.
Trong thời cách mạng Mỹ, thuật ngữ „dân chủ“ không nhất thiết có một âm vang tốt đẹp. Điều này cũng được thể hiện qua tài liệu mang tên Federalist Papers, Hồ sơ Liên bang“, loạt bài gồm có 85 tiểu luận, mà trong đó Alexander Hamilton, James Madison và John Jay dưới bút danh „Publius“ vào năm 1787/88 giải thích các nguyên tắc của Hiến pháp Hoa Kỳ cho những người đương thời của họ để tạo ra việc phê chuẩn của đa số. Trong bài tiểu luận thứ mười, họ ca ngợi nhà nước liên bang được Hiến pháp thành lập như một „phương thuốc điều trị Cộng hòa“ nhằm chống lại các căn bệnh thông thường của sự cai trị nhân dân. Khi Publius nói về nền Dân chủ, ông đã nghĩ đến các cộng đồng nhỏ, trong đó một số lượng ít người dân mà công việc quản lý có thề được tập trung trực tiếp tại một nơi để giải quyết các vấn đề cai trị trực tiếp và bằng đầu phiếu của đa số. Đối với các tác giả, một trật tự nhà nước như vậy là có vấn đề vì nó mở rộng cánh cửa cho tinh thần đảng phái, bởi vì nó làm nảy sinh các phe nhóm chính trị muốn khẳng định lợi ích riêng của họ một cách hiếu chiến so với cái giá phải trả là lợi ích công cộng, và bởi vì những âm mưu và đam mê chính trị đã ngăn cản các quyết định chính trị hợp lý theo ý nghĩa vì lợi ích chung.
Mặt khác, theo những tác giả theo chủ thuyết Liên bang, trong một nền Cộng hòa, quyền lực chính phủ sẽ được đặt vào tay một số ít các quan chức dân cử, những người sau đó sẽ cai trị vì lợi ích chung của người dân. Từ quan điểm này, các đại diện được dân bầu bằng cách ủy quyền chính trị cho họ. Trật tự và ổn định chỉ có thể thực hiện được trong một nhà nước dựa trên tự do cá nhân và chủ quyền của nhân dân. Do đó, theo tư duy của các bậc quốc phụ, một nền Cộng hòa là một trật tự được xây dựng dựa trên chủ quyền nhân dân, sự tham gia xã hội và tự trị, điều này làm truyền năng lượng dân chủ theo cách mà những người có trách nhiệm có khả năng cai trị theo ý nghĩa của công ích được bầu vào các vị trí quyền lực chính trị.
Từ quan điểm của giới tinh hoa của cách mạng Mỹ, tức là những thành phần nam giới có tài sản, giáo dục và uy tín, những người đã kiểm soát chính trị từ thời thuộc địa và nắm giữ tất cả các chức vụ công quan trọng, tất cả những điều này bây giờ không chỉ là lý thuyết trống rỗng, mà là kinh nghiệm cụ thể. Họ đã trải nghiệm trong trào lưu cách mạng, nhiều người từ các tầng lớp xã hội trung lưu và thấp hơn đã đạt được những vị trí quyền lực chính trị như thế nào, mà họ sẽ không bao giờ đạt được trước đây. Các giá trị về tự do-bình đẳng của Cách mạng Mỹ đã dẫn đến sự nới lỏng đáng kể các hệ thống phân cấp xã hội truyền thống, và chúng đã khai phóng năng lượng dân chủ, từ quan điểm của giới tinh hoa về giáo dục, kinh tế và chức quyền trong những năm 1780, mà nó dẫn đến tình trạng bất ổn chính trị trong nước, yếu kém về chính sách đối ngoại, các vấn đề kinh tế của quần chúng và bất an xã hội (chẳng hạn như cuộc nổi dậy của Shays, một cuộc nổi dậy của các nông dân nghèo và cựu chiến binh từ cuộc chiến giành độc lập ở ngoại ô Massachusetts). Cuộc khủng hoảng nhiều mặt của những năm 1780 đe dọa việc chấm dứt nền độc lập của Hoa Kỳ ngay khi nó bắt đầu, rõ ràng là kết quả của tinh thần đồng thuận xã hội quá nhiều.
Do đó, các đại biểu tham dự Hội đồng Lập hiến vào mùa hè năm 1787 là những người hầu như chỉ xuất phát từ giới tinh hoa trong xã hội và một trong những mục tiêu của họ là đề ra các năng lượng dân chủ được thoát khỏi từ trong cuộc cách mạng và tổ chức tiến trình cùng quyết định việc tham gia chính trị theo phương cách mà sự ổn định và trật tự cũng sẽ được bảo đảm trong việc cai trị của người dân bằng cách cai trị do những người có tài sản, giáo dục và uy tín.
Trọng tâm của bối cảnh này là khái niệm „tầng lớp quý tộc tự nhiên“, như đã được Thomas Jefferson khai triển trong một bức thư gửi cho John Adams. Trong khi Jefferson thẳng thừng bác bỏ quyền lãnh đạo của tầng lớp quý tộc châu Âu dựa trên di sản và huyết thống, ông tin chắc chắn rằng số phận của một nước Cộng hòa nên được kiểm soát bởi một „tầng lớp quý tộc tự nhiên“; họ đứng đầu trong xã hội không phải là vì do họ được sinh ra, mà vì khả năng của chính họ ấy và tinh thần đạo đức không bị chê trách. Là thành phần nam giới có tài sản, giáo dục và thanh danh; một mặt, giới quý tộc tự nhiên trong một chính thể Cộng hòa có yêu sách về lãnh đạo; nhưng mặt khác, họ cũng có tinh thần trách nhiệm lãnh đạo đặc biệt.
Tuy nhiên, Jefferson đã triển khai khái niệm đầy ảnh hưởng của mình về „tầng lớp quý tộc tự nhiên“ vào một thời điểm trong một môi trường xã hội mà yêu sách về quyền lãnh đạo này ngày càng bị các thành phần còn lại của xã hội đặt thành vấn đề – và đặc biệt là bởi cái gọi là „giời trung lưu“, tức là nông dân, thợ thủ công và thương nhân đầy tham vọng. Viện dẫn các giá trị bình đẳng triệt để của Bản Tuyên ngôn Độc lập, các tầng lớp này đòi hỏi cho riêng mình quyền được tham gia và đồng quyết định.
Trong thời cách mạng Mỹ, những ý tưởng khác nhau về sự tự trị, quyền đồng quyết định và sự đại diện đã va chạm nhau. Trọng tâm của vấn đề là ai thực sự được phép cùng quyết định trong một cộng đồng dựa trên sự đồng thuận của những người được cai trị và sự đồng quyết định này nên có đến mức độ nào. Thậm chí 250 năm sau khi Hoa Kỳ tuyên bố độc lập, cuộc thảo luận này còn lâu mới kết thúc, nhưng hiện nay đang bước vào một vòng mới.
Dân chủ hoá nền Cộng hoà
Trong cuốn sách xuất bản năm 1992 “The Radicalism of the American Revolution”, nhà sử học Gordon S. Wood đã chỉ ra rằng người Mỹ không được sinh ra trong tinh thần tự do và dân chủ theo ý nghĩa hiện đại, nhưng trong tiến trình lịch sử, họ đã trở nên như vậy như là kết quả của những ý tưởng về giá trị bình đẳng triệt để của cuộc Cách mạng Mỹ. Theo cách giải thích của Wood, các giá trị về tự do được hình thành trong BảnTuyên ngôn Độc lập đã đặt nền móng cho sự chuyển hoá liên tục của xã hội Mỹ theo hướng tự quyết, tham gia và tự quản hơn bao giờ hết. Nếu nhìn trong chiều hương này, cuộc Cách mạng Mỹ đang ở giai đoạn khởi đầu của một tiến trình dân chủ hóa đang diễn ra mà cho đến nay nó vẫn chưa kết thúc, tất nhiên, vẫn còn nằm trong tương lai của thời đại cách mạng.
Một động lực chính của tiến trình dân chủ hóa nền Cộng hòa là trào lưu dân túy. Tình trạng này bắt nguồn từ châm ngôn của Bản Tuyên ngôn Độc lập, mà theo đó người dân có quyền, thậm chí là bổn phận thay thế một hệ thống chính phủ không còn hoàn thành nhiệm vụ bằng một hệ thống mới để bảo vệ các quyền cơ bản bất khả nhượng của cá nhân, mà họ có thể mong đợi là bảo đảm tốt hơn cho quyền tự do được các quyền cơ bản xác định. Định đề này đã làm nảy sinh một động lực cho trào lưu dân túy của nền văn hóa chính trị, mà nó làm liên tục nảy sinh các phong trào chính trị nhằm tái cấu trúc cơ bản về hệ thống chính trị Hoa Kỳ trong khuôn khổ Hiến pháp hiện hành, nhằm để trả lại „nước Mỹ cho người Mỹ“, tức là làm đổi mới các lời hứa hẹn như lúc thành lập.
Trong lịch sử Hoa Kỳ, trào lưu dân túy cũng có thể có tác động làm mở rộng nền dân chủ. Lần đầu tiên, điều này trở nên hoàn toàn nắm bắt được ở Mỹ vào thời Jackson vào những năm 1830/40. Vào thời điểm đó, một hình thức dân chủ nhân dân mới đang nổi lên ở Hoa Kỳ, tập trung vào kiểu mẩu xã hội hư cấu của người bình thường, „công dân bình thường“, mà chính giới đại diện cho lợi ích của họ. Tinh thần mới về bình đẳng này đã tạo ra một nền văn hóa chính trị mang đậm tính dân dã, gần gũi với đời sống thực tế, nó đi kèm với một kiểu vận động trực tiếp mới để lấy phiếu cử tri của các ứng cử viên cho chức vụ công.
Sự thay đổi này trong văn hóa bầu cử theo tinh thần của trào lưu dân túy bình dân được ghi nhận là biểu hiện của một tiến trình chuyển đổi sâu rộng hơn nhiều mà nó bắt đầu như là việc chính trị hóa cơ bản của xã hội Mỹ trong nửa đầu thế kỷ 19. Trong thời đại của Jackson, ngày càng có nhiều người Mỹ – và bây giờ kể cả nữ giới Mỹ – được huy động cho chính trị. Sự huy động này diễn ra thông qua một số lượng lớn các phong trào cải cách, là một phần của dấu hiệu thời đại. Công cuộc đấu tranh chống chế độ nô lệ đang hình thành cho phong trào phụ nữ, nỗ lực cải cách hệ thống nhà tù, hệ thống trường học và phúc lợi của người nghèo, và nhiều mối quan tâm về cải cách khác được phát triển từ trong lòng xã hội, tự thể chế hóa trong các phong trào xã hội và gây áp lực lên các tổ chức chính trị.
Trong lịch sử Hoa Kỳ, trào lưu dân túy cũng có thể có tác động làm mở rộng nền dân chủ. Lần đầu tiên, điều này trở nên hoàn toàn nắm bắt được ở Mỹ vào thời Jackson vào những năm 1830/40. Vào thời điểm đó, một hình thức dân chủ nhân dân mới đang nổi lên ở Hoa Kỳ, tập trung vào kiểu mẩu xã hội hư cấu của người bình thường, „công dân bình thường“, mà chính giới đại diện cho lợi ích của họ. Tinh thần mới về bình đẳng này đã tạo ra một nền văn hóa chính trị mang đậm tính dân dã, gần gũi với đời sống thực tế, nó đi kèm với một kiểu vận động trực tiếp mới để lấy phiếu cử tri của các ứng cử viên cho chức vụ công.
Sự thay đổi này trong văn hóa bầu cử theo tinh thần của trào lưu dân túy bình dân được ghi nhận là biểu hiện của một tiến trình chuyển đổi sâu rộng hơn nhiều mà nó bắt đầu như là việc chính trị hóa cơ bản của xã hội Mỹ trong nửa đầu thế kỷ 19. Trong thời đại của Jackson, ngày càng có nhiều người Mỹ – và bây giờ kể cả nữ giới Mỹ – được huy động cho chính trị. Sự huy động này diễn ra thông qua một số lượng lớn các phong trào cải cách, là một phần của dấu hiệu thời đại. Công cuộc đấu tranh chống chế độ nô lệ đang hình thành cho phong trào phụ nữ, nỗ lực cải cách hệ thống nhà tù, hệ thống trường học và phúc lợi của người nghèo, và nhiều mối quan tâm về cải cách khác được phát triển từ trong lòng xã hội, tự thể chế hóa trong các phong trào xã hội và gây áp lực lên các tổ chức chính trị.
Điều này có tác dụng dân chủ hóa ngược lại cho hệ thống chính trị. Ngày càng có nhiều chức vụ công được đảm nhiệm qua các cuộc bầu cử trực tiếp, quyền bầu cử tự nó ngày càng tách rời ra khỏi quyền sở hữu đất đai và gắn liền với thuế bầu cử; do đó, ngày càng có nhiều nam giới đáp ứng được các tiêu chuẩn về tài sản để có quyền bầu cử. Nguyên tắc bỏ phiếu kín cũng được thực hiện vào thời điểm đó.
Tất cả những sự phát triển này đã thúc đẩy cho tiến trình dân chủ hóa của nền Cộng hòa Mỹ, mà trước đây đã bị chiếm hữu bởi các giới tinh hoa về giáo dục, kinh tế và chức quyền; do đó, tiến trình chính trị ở Hoa Kỳ Kỳ dựa trên cơ sở xã hội rộng lớn hơn bao giờ hết cho đến trước khi có cuộc Nội chiến. Cùng với tiến trình này, các khả năng về quyền đồng thuận xã hội ngày càng mở rộng. Tuy nhiên, bất chấp tiến trình chuyển đổi cơ bản này, Hoa Kỳ vẫn là một nền dân chủ vào năm 1861, trong đó giới hữu sản và chức quyền tiếp tục có tiếng nói bề thế.
Tuy nhiên, việc mở rộng liên tục về quyền tự quyết và tham gia cho những người bị loại trừ trước đây vẫn là một tiến trình cơ bản trong lịch sử Hoa Kỳ. Vào một phần ba cuối thế kỷ 19, một phong trào đòi quyền bầu cử cho nữ giới được hình thành ngày càng mạnh mẽ, đấu tranh cho quyền phổ thông đầu phiếu cho nữ giới thành công với Tu chính án thứ 19 của Hiến pháp Hoa Kỳ vào năm 1920. Vào những năm 1960, dựa trên các lý tưởng sáng lập cách mạng của Hoa Kỳ mà cái gọi là Phong trào Phụ nữ thứ hai, giờ đây đòi hỏi sự bình đẳng toàn diện về cơ hội cho nữ giới và quyền tự quyết không hạn chế của họ ngay cả bên ngoài các vấn đề hôn nhân, gia đình và nội trợ.
Bên cạnh nữ giới, nhóm thứ hai chính yếu là giới đấu tranh cho quyền bình đẳng và tham gia đã quyết định quan trọng cho lịch sử của Hoa Kỳ là của người da đen. Cho đến cuộc Nội chiến, cuộc đấu tranh cho tự do của họ tập trung vào việc bãi bỏ chế độ nô lệ, điều này thực sự bị cấm với Tuyên bố Giải phóng của Abraham Lincoln vào năm 1863 và Tu chính án thứ 13 của Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1865. Chế độ nô lệ đã được thay thế ở các tiểu bang của Liên minh miền Nam cũ từ những năm 1880 trở đi bằng cái gọi là hệ thống Jim Crow về phân biệt chủng tộc được luật định, chỉ được chấm dứt với Đạo luật Dân quyền năm 1964 và Đạo luật Quyền Bầu cử năm 1965. Trong cuộc chiến chống lại hệ thống phân biệt chủng tộc, một phong trào dân quyền được hỗ trợ bởi người da đen và người da trắng tự do đã phát triển từ những năm 1890 trở đi, nó trải qua nhiều giai đoạn khác nhau và đến sau Thế chiến thứ hai đã phát triển sức mạnh, có khả năng thể hiện và ảnh hưởng đến mức phân biệt đối xử đối với người da đen theo luật định đã bị cấm vào giữa những năm 1960. Tuy nhiên, các hình thức phân biệt đối xử khác có động cơ chủng tộc, trên thực tế vẫn còn – và vẫn tồn tại cho đến ngày nay.
Việc mở rộng dần các khả năng tham gia và đồng quyết định được thành lập nền Cộng hòa Mỹ trong thời cách mạng không phải là kết quả của sự tăng trưởng tự điều hướng dựa trên cơ sở đồng thuận tự do được chia sẻ rộng rãi về luật tự nhiên, mà nó được mở rộng liên tiếp và đồng thuận cho các nhóm bị loại trừ trước đây. Đúng hơn, dân chủ hóa nền Cộng hòa Mỹ là một tiến trình được thúc đẩy bởi những tranh luận ồn ào trong xã hội, nó không theo tuyến tính, biết theo việc thành bại của dân chủ hóa ở mức độ ngang nhau, và cho đến ngày nay, vấn đề này vẫn chưa được kết thúc.
“Tôi là nam giới”
Trọng tâm trong mối quan hệ này là cuộc tranh cãi chua chát về việc ai là „con người“ và điều gì định nghĩa là con người. Điều này rất quan trọng cần nhấn mạnh bởi vì việc loại trừ các nhóm xã hội khỏi lời hứa hẹn về tự do và bình đẳng đã được biện minh với tình nhân đạo dường như là thiếu sót cho những người bị loại trừ. Nói thẳng ra: Vào ngày 4 tháng 7 năm 1776, những nhà cách mạng Mỹ tuyên bố tất cả mọi người được sinh ra tự do và bình đẳng, và ngay từ ngày 5 tháng 7 năm 1776, họ đã bắt đầu một cuộc tranh luận về con người là ai và điều gì chủ yếu tạo nên một con người. Trong những cuộc thảo luận này, các phác thảo về hình ảnh về con người trở nên rõ ràng nhanh chóng, nó đề ra một mẩu người có lý trí, da trắng, thuộc chủng tộc Anglo-Saxon, theo đạo Tin lành và có gia sản. Trong tâm trí của đại đa số thế hệ thời sáng lập, chỉ có những người này mớ là những người có quyền cơ bản bất khả chuyển nhượng. Ngược lại, nữ giới, người da đen, các sắc tộc không thuộc Anglo-Saxon, những người bị phụ thuộc về kinh tế và tất nhiên, thổ dân dường như không phải là con người có giá trị toàn diện, đó là lý do tại sao họ không có các quyền cơ bản bất khả xâm phạm và yêu sách tham gia chính trị.
Thế giới quan về phân biệt chủng tộc, ghét nữ giới và bài ngoại đã phục vụ để xây dựng tính nhân loại dường như còn thiếu sót cho các nhóm bị loại trừ – hệ thống đặt ra ý nghĩa việc phi nhân tính hóa cho người da đen, phụ nữ và nhập cư. Do đó, tinh thần phân biệt chủng tộc, bài ngoại và ghét nữ giới không phải là xa lạ đối với nền dân chủ tự do của Hoa Kỳ, mà là một phần không thể thiếu của một xã hội được thành lập trên một lời hứa triệt để về bình đẳng, nhưng mặt khác các nhóm xã hội luôn phấn đấu cho quyền tối thượng trong việc giải thích, sự khác biệt và bá quyền.
Trong bối cảnh này, điều quan trọng là xác định rằng các công cuộc đấu tranh về quyền bình đẳng cho người da đen, nữ giới và các nhóm khác bị loại trừ ra khỏi việc tham gia trong lời hứa cách mạng của tự do và bình đẳng luôn bắt đầu với sự khẳng định về nhân tính của chính họ. Ví dụ, Bản Tuyên ngôn về Tình cảm, được thông qua bởi Hội nghị Phụ nữ đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ vào mùa hè năm 1848, đã diễn đạt lại Bản Tuyên ngôn Độc lập theo cách mà bất cứ nơi nào „Nam giới“ được viết trong tài liệu gốc, bây giờ là nói về „Nam giới và nữ giới“. Và khi ở Memphis, Tennessee, vào tháng 2 năm 1968, công nhân da đen đổ rác đi biểu tình chống lại các hành vi phân biệt đối xử của giới chủ lao động trong thành phố của họ, nơi vốn vẫn tồn tại bất chấp sự bình đẳng dân sự của người da đen, họ mang theo các biểu ngữ phản đối được viết một cách đơn giản: „Tôi là nam giới.“
Các khiếm khuyết về cấu trúc của nền dân chủ
Một số nguyên tắc xây dựng của Hiến pháp Hoa Kỳ có thể bắt nguồn từ lịch sử thời sáng lập cách mạng, mà từ đó mà các khiếm khuyết của nền dân chủ có thể phát triển trong thời gian sau đó. Điều này không thể được thảo luận ở đây trong tất cả sự phức tạp của vấn đề; do đó, tôi đang tập trung vào các khía cạnh chọn lọc trong hệ thống bầu cử, nơi mà vấn đề này đặc biệt rõ ràng.
Chiếu theo Điều 1, Mục 4 của Hiến pháp Hoa Kỳ, một đặc điểm chính về cấu trúc của hệ thống bầu cử Hoa Kỳ là các cuộc bầu cử được tổ chức và tiến hành bởi các tiểu bang riêng lẻ trên cơ sở luật bầu cử tiểu bang có hiệu lực. Mặc dù các luật bầu cử này không được phép vượt quá khuôn khổ do Hiến pháp quy định, nhưng trong khuôn khổ này đã và vẫn còn nhiều khả năng hạn chế quyền tham gia dân chủ.
Một ví dụ điển hình cho vấn đề này là Luật Jim Crow đã được đề cập, nó đã du nhập vào hệ thống phân biệt chủng tộc ở các bang miền Nam từ cuối thế kỷ 19 trở đi và tước đoạt thực sự quyền bầu cử của người da đen, mặc dù Tu chính án thứ 15 của Hiến pháp Hoa Kỳ đã cấm trên toàn Liên bang kể từ năm 1870, nhằm để hạn chế quyền bầu cử trên cơ sở „chủng tộc, màu da hoặc điều kiện nô lệ trước đây“. Luật Jim Crow hoàn toàn không vi phạm quy tắc Hiến định này. Thay vào đó, luật bầu cử của các tiểu bang miền Nam ràng buộc quyền bầu cử với các điều kiện như thuế bỏ phiếu, bằng chứng biết chữ hoặc điều khoản về gia thế, quy định rằng chỉ những cử tri có ông nội đã được bỏ phiếu, thì họ mới có quyền bầu cử. Mặc dù những quy định này áp dụng cho tất cả công dân của tiểu bang, nhưng chúng không thể được áp dụng, đặc biệt là đối với người da đen. Nếu đúng như vậy, thì người da đen thường bị ngăn cản thực hiện quyền bầu cử bởi bạo lực tuyệt đối của những người theo chủ nghĩa thượng đẳng da trắng.
Một điều khoản khác của Hiến pháp có khiếm khuyết tiềm ẩn về dân chủ là việc vẽ lại các địa hạt bầu cử dựa trên cơ sở điều tra dân số diễn ra cứ mười năm một lần (Gerrymandering). Giới lập hiến đã coi việc phân chia lại khu vực là một cách để đảm bảo trọng lượng của từ lá phiếu bầu của cá nhân và tính đại diện công bằng trong Quốc hội Hoa Kỳ đứng trước việc bảo đảm cho sự thay đổi về nhân khẩu học được dự kiến trong tương lai. Tuy nhiên, trong các điều kiện bỏ phiếu theo đa số trong hệ thống lưỡng đảng không được Hiến pháp dự trù, Gerrymandering hiện nay đã trở thành một cách để cho đảng cầm quyền trong một tiểu bang tổ chức lại các khu vực bầu cử theo cách mà đa số cơ cấu được đảm bảo cho họ. Thực tế, ngày nay chỉ có một số lượng rất nhỏ các khu vực bầu cử được tranh cử, và do đó chỉ có vài trăm nghìn cử tri của một tiểu bang quyết định các cuộc bầu cử là hậu quả trực tiếp của quy định này.
Trong các khía cạnh khác cũng vậy, cấu trúc liên bang của hệ thống bầu cử góp phần trong việc khiếm khuyết cho nền dân chủ. Trong các điều kiện về phân hoá xã hội, các tiểu bang đã phát triển ngày càng cách biệt nhau về mặt ý thức hệ trong 25 năm đầu tiên của thế kỷ 21. Các tiểu bang bảo thủ truyền thống thậm chí còn trở nên bảo thủ hơn, trong khi các tiểu bang luôn tự do thậm chí còn trở nên tự do hơn. Đồng thời, số liệu dân số của họ đang càng mở rộng cách biệt: các tiểu bang vốn dĩ đã đông dân nhất thậm chí còn trở nên đông dân hơn kể từ đầu thiên niên kỷ, trong khi các tiểu bang ít dân số hơn càng tiếp tục mất dân số. Hiện tại, khoảng 67% dân số Hoa Kỳ sống ở mười lăm tiểu bang lớn nhất của Liên minh. Điều này gây ra những hậu quả kỳ lạ đối với cán cân quyền lực tại Thượng viện Hoa Kỳ, nơi mỗi bang được đại diện bởi hai thượng nghị sĩ. Ở đây, hơn hai phần ba dân số hiện được đại diện bởi 30 thượng nghị sĩ, trong khi một phần ba còn lại được đại diện bởi 70.
Cũng do lịch sử thành lập của Hoa Kỳ thời cách mạng mà một sự khiếm khuyết khác về dân chủ rõ ràng khác được ghi vào hệ thống bầu cử tổng thống. Tổng thống sẽ không phải là ứng cử viên nhận được nhiều phiếu bầu nhấ của cử tri, mà là người có đa số phiếu bầu của đại cử tri đoàn – trong đó nữ giới luôn được đại diện kể từ Tu chính án thứ 19 năm 1920. Trong đại cử tri đoàn này, mỗi tiểu bang có số phiếu bầu bằng số phiếu bầu của Dân biểu và Thượng nghị sĩ trong Quốc hội Hoa Kỳ. Trong khi các đại cử tri ban đầu được bầu bởi các cơ quan lập pháp của tiểu bang, hiện nay, họ được bầu trực tiếp bởi người dân ở tất cả các tiểu bang, ngoại trừ Maine và Nebraska vì dựa trên cơ sở bỏ phiếu theo đa số đơn giản. Do đó, đảng chiến thắng giành được tất cả các phiếu bầu của tiểu bang trong đại cử tri đoàn; số phiếu bầu cho đảng thua cuộc hoàn toàn bị mất.
Hệ thống này có thể dẫn đến việc bầu một người làm tổng thống đã nhận được đa số phiếu đại cử tri đoàn nhưng không nhận được đa số phiếu bầu của cử tri. Mặc dù điều này chỉ xảy ra tổng cộng bốn lần trong 51 cuộc bầu cử tổng thống kể từ năm 1824, nhưng điều quan trọng là hai trong số bốn trường hợp này xảy ra trong 25 năm của thế kỷ 21, cụ thể là trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2000 và 2016, mỗi cuộc đều kết thúc với chiến thắng của một đảng viên Cộng hòa. Kể từ năm 1992, các ứng viên tổng thống của đảng Cộng hòa đã giành được đa số trong đại cử tri đoàn bốn lần, nhưng chỉ hai lần họ giành được đa số phiếu bầu: George W. Bush năm 2004, Donald Trump năm 2024.
Nền dân chủ theo hệ thống lưỡng đảng bị phân hoá
Trong các điều kiện thay đổi về nhân khẩu học, các biến đổi về kinh tế sâu rộng, chiến tranh văn hóa về đạo đức xã hội và tình trạng phân cực đảng phái, những khiếm khuyết về cấu trúc của nền dân chủ của Hiến pháp Hoa Kỳ góp phần làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng về nền dân chủ tự do ở Hoa Kỳ. Hiện nay, trước hết là các đảng chính trị, vì không được Hiến pháp Hoa Kỳ quy định, nên họ biết lạm dụng tình trạng khiếm khuyết về cơ cấu của nền dân chủ trong các điều kiện đầu phiếu theo đa số trong hệ thống lưỡng đảng, để tạo lợi ích chính trị của riêng đảng và do đó làm xói mòn sự đồng thuận dân chủ ở Hoa Kỳ
Điều này đưa chúng ta trở lại với lời cảnh báo của George Washington về những hậu quả tai hại của „tinh thần đảng phái“. Trong tư duy của giới lập hiến, trật tự hiến định mà họ hình thành là một công cụ để ngăn chặn các đảng phái chính trị. Tuy nhiên, một hệ thống đảng thứ nhất đã xuất hiện ngay từ những năm 1790; ngày nay đã là lần thứ ba. Kết hợp với bầu cử theo đa số là hệ thống lưỡng đảng đã trở thành một yếu tố khủng hoảng, bởi vì hiện nay nó đang dẫn đến thực tế là trong nội bộ các đảng, các nam nử ứng viên với các vị thế cực đoan hơn thường chiếm ưu thế và những người ôn hòa bị gạt ra ngoài lề. Trong mối quan hệ giữa hai đảng, một xu hướng hiện nay đang chế ngự cả hai phía, đảng này coi đảng kia là kẻ thù về ý thức hệ, chứ không phải là đối thủ cạnh tranh hợp pháp trong cuộc cạnh tranh dân chủ để giành phiếu bầu. Do đó, không thể kỳ vọng rằng ký ức về Cách mạng Mỹ sẽ xoa dịu đi nền chính trị và xã hội ở Hoa Kỳ 250 năm sau khi ký Bản Tuyên ngôn Độc lập.
***
Volker Depkat là Giáo sư chuyên khoa về Hoa Kỳ tại Đại học Regensburg (Đức).