Các cuộc chiến tương tự kết thúc giống nhau
Gideon Gideon
Đỗ Kim Thêm dịch

Các phi vụ của không lực của Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh Iran, tại một địa điểm không được tiết lộ, vào tháng 3 năm 2026, Hải quân Hoa Kỳ / Reuters
Chính quyền Trump chỉ mất hai tháng để chạy đua qua tất cả năm năm chính sách về Việt Nam của chính quyền Johnson: thâm nhập, leo thang, bế tắc trong thất vọng và đàm phán. Bây giờ, nó nằm trong phạm vi của chính quyền Nixon: đầu tiên là những lời đe dọa dữ dội, sau đó dần dần nhận ra sự cần thiết phải giải thoát thông qua một thỏa thuận không thỏa mãn. Nếu tốc độ này được giữ vững, sự can thiệp vào Iran sẽ kết thúc trong vài tháng nữa, khi đó các cáo buộc sẽ bắt đầu.
Tất nhiên, không có sự tương đồng lịch sử nào là hoàn hảo, và có nhiều khác biệt rõ ràng giữa các cuộc xung đột ở Iran và Việt Nam: các khu vực khác nhau, các ý thức hệ tư khác nhau đang xảy ra, khung thời gian ngắn hơn nhiều, không có bộ binh hoặc quân dịch của Hoa Kỳ, không có sự thay đổi trong chính quyền, công nghệ quân sự tiên tiến, và hơn thế nữa. Tuy nhiên, có những đối xứng đáng chú ý trong cấu trúc của hai cuộc xung đột. Và điều tương tự cũng đúng với cuộc chiến ở Ukraine, có cấu trúc đối xứng với Chiến tranh Triều Tiên. Và bởi vì các cấu trúc hạn chế sự lựa chọn của các nhà hoạch định chính sách khi nhận ra những mô hình này mang lại các manh mối về cách các cuộc chiến sẽ kết thúc.
Cuộc chiến Mỹ-Israel chống lại Iran có thể sẽ kết thúc giống như chiến tranh Việt Nam năm 1973, với một giải pháp thỏa hiệp không ổn định để giải quyết một số vấn đề nhưng lại những vấn đề quan trọng khác chưa được giải quyết. Cũng giống như số phận cuối cùng của miền Nam Việt Nam được để lại sau đó, số phận cuối cùng của Cộng hòa Hồi giáo và chương trình hạt nhân của nó sẽ được để lại cho một ngày khác. Ngược lại, cuộc chiến ở Ukraine, giống như chiến tranh Triều Tiên, có thể sẽ kết thúc với một giải pháp củng cố một cái gì đó giống như đường xung đột hiện tại, với các biên giới đóng băng được tuần tra vô thời hạn trong một thỏa thuận đình chiến tỏ ra ổn định và bền vững hơn hầu hết các nhà quan sát mong đợi.
Nửa chặng đường với Lyndon B. Johnson
Tháng 11 năm 1963, giới lãnh đạo của cả miền Nam Việt Nam và Hoa Kỳ bị ám sát, khiến cho Tổng thống Lyndon Johnson đột ngột nhận trách nhiệm cho hai quốc gia đang gặp khủng hoảng. Ở Việt Nam, các lực lượng miền Bắc có động lực và được lãnh đạo tốt, cùng với các quân du kích của họ ở miền Nam, đang dần giành được chỗ đứng chống lại một chế độ Nam Việt Nam bất hạnh. Trừ khi Washington làm điều gì đó để đảo ngược xu hướng, có vẻ như Sài Gòn cuối cùng sẽ sụp đổ, và đất nước sẽ được thống nhất dưới sự kiểm soát của cộng sản. Johnson và nhóm cộng sự của ông không lạc quan lắm về việc giành chiến thắng, nhưng họ lo sợ hậu quả trong nước và quốc tế của việc thua cuộc chiến. Vì vậy, họ quyết định tăng cường hỗ trợ cho Sài Gòn với hy vọng rằng một cuộc phô trương sức mạnh sẽ khiến Hà Nội phải lùi bước.
Lúc đầu, điều này có nghĩa là gửi các cố vấn quân sự và viện trợ kinh tế. Sau đó, nó có nghĩa là ném bom; và sau đó, có nghĩa là gửi quân bộ binh; và sau đó nó có ý nghĩa về mọi thứ nhiều hơn. Tuy nhiên, Hà Nội vẫn kiên định với các mục tiêu cốt lõi của mình và từ chối nhượng bộ. Đến năm 1968, cuộc chiến đã tiêu tốn quá nhiều xương máu và của cải và gây ra sự hỗn loạn trong nước đến mức Washington bắt đầu tìm lối thoát. Bản thân Johnson không bao giờ chấp nhận thất bại, nhưng đã hạn chế sự leo thang của cuộc chiến, tuyên bố đơn phương ngừng ném bom, rút lui khỏi đời sống chính trị và chuyển vấn đề cho người kế nhiệm.
Hóa ra người đó là Richard Nixon, người cùng với cố vấn an ninh quốc gia của mình, Henry Kissinger, thừa hưởng một mệnh lệnh cơ bản để kết thúc chiến tranh nhưng ít vốn chính trị cho các dự án mới. Cả Nixon và Kissinger đều không bao giờ nghĩ đến việc từ bỏ Sài Gòn, nhưng họ đã đặt mục tiêu tái thiết các mối quan hệ siêu cường và hiểu rằng Hoa Kỳ phải hành động tương đối sớm – chắc chắn là trước cuộc bầu cử tổng thống tiếp theo. Lúc đầu, họ cố gắng đạt được mục tiêu cũ thông qua một hỗn hợp mới giữa vũ lực và thất vọng. Họ hy vọng rằng Bắc Việt có thể sợ hãi trước những cuộc ném bom mới man rợ và các mối đe dọa hoang dã, Liên Xô và Trung Quốc có thể được dụ dỗ giúp đỡ, và công chúng Mỹ có thể được bình định bằng cách cắt giảm quân số nhỏ – và tất cả những điều này cùng nhau sẽ tạo ra một thỏa thuận cho phép Mỹ rút lui, Nam Việt Nam sống sót và Bắc Việt rút quân. Đây là giai đoạn mà Chánh văn phòng Toà Bạch ốc H. R. Haldeman sau này đã trổ thành bất tử trong hồi ký của mình:
Nixon chắc chắn rằng cuối cùng ông có thể buộc Bắc Việt vào các cuộc hoà đàm bình hợp pháp. Mối đe dọa là giải pháp, và Nixon đã đặt ra một cụm từ cho lý thuyết của mình. Nixon nói, „Tôi gọi đó là Lý thuyết của người điên, Bob. Tôi muốn Bắc Việt tin rằng tôi đã đạt đến điểm mà tôi có thể làm bất cứ điều gì để chận đứng cuộc chiến. Chúng tôi sẽ chỉ nói với họ rằng, ‚Chúa ơi, bạn có biết rằng Nixon bị ám ảnh bởi chủ nghĩa cộng sản. Chúng tôi không thể kiềm chế ông ấy khi ông ấy tức giận – và ông ấy đang nắm trong tay nút bấm cho vũ khí hạt nhân‘ – và chính Hồ Chí Minh sẽ có mặt ở Paris trong hai ngày nữa để cầu xin hòa bình.“
Nhưng chiến lược đã thất bại. Liên Xô hoặc không thể hoặc sẽ không gây áp lực đủ mạnh cho Bắc Việt để khiến họ chấp nhận một giải pháp, những người cộng sản không sụp đổ cũng không chớp mắt, và chiến tranh kéo dài.
Đến mùa thu năm 1969, chính quyền đã trở lại nơi họ đã bắt đầu, ngoại trừ việc rút quân của Hoa Kỳ đã bắt đầu rút quân, khơi dậy lòng mong muốn của công chúng Mỹ về việc chờ đợi cho Washington ra đi nhiều hơn và tạo động lực cho Hà Nội. Sự thất vọng trong Toà Bạch Ốc gia tăng. Kissinger ra lệnh cho bộ tham mưu của mình chuẩn bị kế hoạch cho một „đòn trừng phạt dã man“ chống lại kẻ thù. Ông nói với họ: „Tôi không thể tin được rằng một cường quốc hạng tư như Bắc Việt Nam không có điểm đột phá.“ Trước khi tấn công, các quan chức chính quyền đã đưa ra tối hậu thư cho Liên Xô và Bắc Việt nhượng bộ – nếu không. Nhưng khi họ phớt lờ tối hậu thư, Washington đã không thực hiện các mối đe dọa của mình.
Cuối cùng, Nixon và Kissinger đã quyết định một chiến lược thoái lui thứ hai, kết hợp việc rút quân dần dần của Hoa Kỳ, tăng viện trợ cho chế độ Thiệu ở Sài Gòn, và theo đuổi mạnh mẽ một giải pháp thương lượng. Năm 1973, điều này dẫn đến một thỏa thuận cho phép Hoa Kỳ ngừng chiến và đưa tù binh chiến tranh về nước mà không chính thức phản bội đồng minh. Nhưng bản in nhỏ của thỏa thuận cho phép các lực lượng cộng sản duy trì tại chỗ ở các khu vực phía nam mà họ kiểm soát, cho phép họ khởi động lại các hoạt động sau khi Hoa Kỳ rút lui. Quy định đó, cùng với những hạn chế của Quốc hội đối với sự can dự mới của Hoa Kỳ, đã dẫn đến sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam hai năm sau đó.
Như Johnson đã làm ở Việt Nam, Tổng thống Donald Trump đã đến Iran để ngăn chặn các xu hướng đáng lo ngại. Các cuộc không kích của Israel và Mỹ vào tháng 6/2025 đã gây ra thiệt hại lớn cho chương trình hạt nhân của Iran. Nhưng sau đó, Cộng hòa Hồi giáo bắt đầu xây dựng lại các khả năng quân sự quy ước của mình, và Israel và Mỹ lo ngại rằng điều này cuối cùng sẽ tạo ra một lá chắn mạnh mẽ để Tehran có thể tiếp tục theo đuổi tham vọng về vũ khí hạt nhân của mình. Ông Trump đã mua sự đảm bảo của Israel rằng một cuộc tấn công chặt đầu mạnh mẽ sẽ lật đổ chế độ Iran và giải quyết vấn đề cho một lần và mãi mãi, và ông đã chấp thuận một cuộc tấn công phối hôp của các lực lượng Mỹ và Israel vào cuối tháng Hai. Các cuộc không kích đã phá hủy phần lớn năng lực quân sự của Iran và giết chết nhiều quan chức Iran, bao gồm cả Lãnh tụ tối cao Ali Khamenei. Nhưng con trai của Khamenei là Mojtaba đã kế vị cha mình, và chế độ Iran có nền móng vững chắc tiếp tục hoạt động. Tệ hơn nữa, nó đã tấn công lại các nước láng giềng ở vùng Vịnh và gây ra một cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu bằng cách đặt ra các hạn chế đối với việc vận chuyển qua eo biển Hormuz.
Vào tháng Tư, Trump thất vọng đã chuyển từ trò chơi của Johnson sang trò chơi của Nixon, cố thử một chiến lược mới để tăng áp lực, tối hậu thư và đe dọa, và đề nghị đàm phán. Sự hồi sinh với phuương cách của „kẻ điên“ này đã dẫn đến một lệnh ngừng bắn vào ngày 8 tháng 4 và các cuộc đàm phán trực tiếp giữa các quan chức Mỹ và Iran do Pakistan làm trung gian, nhưng nó không mang lại những nhượng bộ như mong muốn. Eo biển Hormuz vẫn đóng cửa, và các yêu cầu của hai bên vẫn còn cách xa nhau. Chưa bao giờ lên kế hoạch cho một cuộc chiến trong lâu dài, với chiến phí tăng cao và sự ủng hộ trong nước giảm mạnh, Trump hiện rõ ràng đang tìm kiếm một lối thoát nào đó để giữ thể diện, giống như Nixon và Kissinger đã làm vào đầu những năm 1970. Nhưng người Iran, giống như người Bắc Việt, đang tỏ ra ngoan cố không hợp tác, đánh cược rằng họ có thể giành chiến thắng trong một cuộc cạnh tranh đau khổ. Những gì xảy ra tiếp theo có thể là một thỏa thuận chấm dứt giao tranh, cho phép vận chuyển trở lại và giả mạo hoặc trì hoãn việc giải quyết nhiều điểm tranh chấp khác. Giống như số phận của miền Nam Việt Nam, số phận cuối cùng của chương trình hạt nhân Iran, cùng với chính chế độ Iran, sẽ được quyết định vào một ngày khác.
Vẽ cuộc cờ chưa kết thúc
Trong khi đó, ở Ukraine, quân đội Triều Tiên chiến đấu bên cạnh Nga chắc hẳn đang trải qua những kinh nghiệm chứng kiến khi họ tái hiện cơn ác mộng của thế hệ cho ông, họ đóng vai trò hy sinh nhân mạng trong một cuộc tắm máu bế tắc. Vào cuối tháng 6 năm 1950, các lực lượng Bắc Triều Tiên tràn qua vĩ tuyến 38 trong một cuộc đột kích được thiết kế để đặt toàn bộ bán đảo Triều Tiên dưới sự kiểm soát của cộng sản. Các quan chức chính quyền Truman giải thích động thái này là một đòn tấn công lớn trong Chiến tranh Lạnh ngày càng căng thẳng và cam kết Hoa Kỳ bảo vệ Hàn Quốc, sắp xếp để Liên Hợp Quốc tài trợ cho nỗ lực này.
Bắc Triều Tiên đã tiến quân trong mùa hè, cuối cùng ghim các lực lượng Liên Hiệp Quốc vào một khu vực nhỏ xung quanh cảng Busan ở phía đông nam. Vào tháng Chín, cuộc đổ bộ thành công của Tướng Mỹ Douglas MacArthur tại cảng Inchon phía sau phòng tuyến của kẻ thù đã đảo ngược xu hướng của cuộc chiến, và ngay sau đó quân đội Liên Hiệp Quốc đã đẩy lùi Bắc Triều Tiên.
Vào tháng Mười, tràn ngập chiến thắng và cảm nhận được một cơ hội bất ngờ để thống nhất bán đảo Triều Tiên theo các điều khoản của Hàn Quốc, các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ đã cho phép MacArthur tự do theo đuổi các hoạt động xâm nhập vào lãnh thổ Bắc Triều Tiên, mà ông đã khai thác đến giới hạn và hơn thế nữa. Nhưng khi quân đội Liên Hiệp Quốc di chuyển về phía bắc, cuộc chiến lại đổi hướng, với quân đội Trung Quốc đến hỗ trợ người Bắc Triều Tiên và buộc các lực lượng Liên Hiệp Quốc phải rút lui vội vã về phía nam. Ấn Độ và Vương quốc Anh đã áp lực Mỹ bắt đầu đàm phán, dựa trên một thỏa thuận liên quan đến việc từ bỏ Đài Loan và kết nạp Trung Quốc vào Liên Hiệp Quốc. Nhưng chính quyền Truman đã từ chối, đánh cược để hồi sinh cho chiến trường. Và chắc chắn, dưới thời một chỉ huy mới về bộ binh Matthew Ridgway, lại một lần nữa, các lực lượng Liên Hiệp Quốc đã đảo ngược xu hướng khi quay trở lại bán đảo vào đầu năm 1951.
Tại thời điểm này, cả hai nhóm kháng chiến quân đều nhận ra rằng việc vượt qua bế tắc sẽ cực kỳ khó khăn và tốn kém, và họ bắt đầu xem xét một cuộc đàm phán kết thúc chiến tranh trên cơ sở hiện trạng trước đó. MacArthur không đồng ý với lựa chọn chính sách này và cố tình phá hoại nó; ông đưa ra các tuyên bố công khai hiếu chiến và chỉ trích chính quyền với đảng Cộng hòa trong Quốc hội. Đáp lại, Tổng thống Harry Truman đã loại bỏ MacArthur khỏi quyền chỉ huy trưởng vào tháng Tư, thay thế ông bằng Ridgway. Vào tháng 6, sau khi các lực lượng Liên Hiệp Quốc ngăn chặn một cuộc tổng tấn công của Trung Quốc, đại sứ Liên Xô tại Liên Hiệp Quốc đã đề nghị trong một bài diễn văn trên đài phát thanh rằng cả hai bên đồng ý đình chiến ở vĩ tuyến 38, và vào tháng 7, các cuộc đàm phán ngừng bắn trực tiếp bắt đầu. Các nhà quan sát đương đại mong đợi một giải pháp trong vài tuần. Các nhà đàm phán Mỹ đầu tiên được yêu cầu đóng gói đồng phục cho một buổi lễ ký kết, và các nhà đàm phán Trung Quốc đầu tiên chỉ mang theo quần áo mùa hè. Nhưng các cuộc đàm phán bị sa lầy, và giao tranh ác liệt tiếp tục trong hai năm nữa. Một thỏa thuận đình chiến cuối cùng đã được ký kết vào tháng 7 năm 1953, dọc theo các đường gần với nơi các bên bắt đầu đàm phán.
Những điểm tương đồng giữa các cuộc chiến ở Triều Tiên và Ukraine là rất nổi bật. Cuộc chiến hiện tại ở Ukraine bắt đầu với một cuộc tấn công bất ngờ của lực lượng Nga vào cuối tháng 2/2022. Giống như Bắc Triều Tiên vào năm 1950, người Nga đã có những bước tiến đáng kể trong nỗ lực chinh phục lại những gì họ coi là lãnh thổ quốc gia đã mất, và lại một lần nữa, các quan chức Mỹ và châu Âu cam kết giúp nạn nhân chống lại cuộc xâm lược. Cũng như tại Triều Tiên, năm đầu tiên của cuộc chiến ở Ukraine chứng kiến sự đảo ngược quân sự quy mô và các hoạt động hành quân, sau đó là nhiều năm bế tắc ở cao độ dọc theo các chiến tuyến tương đối cố định.
Khi Trump nhậm chức vào năm 2025, ông đã cố gắng buộc một giải pháp, lôi kéo Nga bằng cách gợi ý rằng nước này có thể giữ lại lợi ích lãnh thổ và bắt nạt Ukraine bằng cách từ chối hỗ trợ. Nhưng không bên nào sẵn sàng chấp nhận một thỏa thuận, và cuộc chiến vẫn tiếp tục. Tuy nhiên, các bên tham chiến càng kiệt sức và cam chịu, khả năng một thỏa thuận phê chuẩn bế tắc càng tăng lên. Giống như Chiến tranh Triều Tiên, cuộc chiến ở Ukraine cực kỳ bạo lực, với tổng số người chết trong chiến đấu là hàng trăm nghìn người và thương vong là hàng triệu. (Ở Triều Tiên, cũng có hàng triệu thương vong thường dân.) Một nỗ lực toàn diện như vậy được bỏ ra cho những lợi ích tối thiểu như vậy đã để lại dấu ấn, và ở Ukraine cũng như ở Triều Tiên, một khi chiến sự chấm dứt, nó khó có thể sớm bắt đầu lại một lần nữa – đặc biệt là vì sự cảnh giác mà đường phân giới sẽ được bảo vệ.
Lần này không có gì khác
Cả bốn cuộc chiến đều có khả năng đến bên bờ vực của vũ khí hạt nhân. Mô hình này được thiết lập ở Triều Tiên, cuộc xung đột đầu tiên trong lịch sử trong đó có thể xảy ra chiến tranh hạt nhân chung giữa các liên minh kháng chiến. Các cường quốc hạt nhân sẽ đe dọa sử dụng bom, hy vọng khiến cho kẻ thù của họ sợ hãi mà nhượng bộ, nhưng không bao giờ thực sự thực hiện. Mỹ không sử dụng vũ khí hạt nhân ở Triều Tiên hay Việt Nam, Nga không sử dụng vũ khí hạt nhân ở Ukraine, và cả Mỹ và Israel sẽ không sử dụng chúng ở Iran, bất kể họ có thểđề ra những luận điệu nhằm chấm dứt nền văn minh nào. Tuy nhiên, áp lực phổ biến vũ khí hạt nhân chắc chắn sẽ tăng lên. Sẽ không ai quên rằng Ukraine chỉ bị tấn công sau khi nước này từ bỏ khả năng hạt nhân và một Triều Tiên hạt nhân an toàn trong khi Iran phi hạt nhân nằm trong đống đổ nát.
Cả bốn cuộc chiến cũng có tranh chấp không chỉ giữa các đối thủ mà còn giữa các đối tác – điều này không có gì đáng ngạc nhiên, vì các cường quốc lớn và nhỏ có lợi ích và trách nhiệm khác nhau. Ở đây, lại một lần nữa, mô hình được thiết lập ở Hàn Quốc. Khi các cường quốc quyết định họ sẵn sàng ngừng chiến, họ đã đưa các đối tác cấp dưới của mình đi cùng. Sau cái chết của Stalin, các nhà lãnh đạo mới của Liên Xô quyết định cắt giảm tổn thất của họ và cho phép một thỏa thuận đình chiến được tiến hành, trong khi Washington buộc Seoul phải chấp nhận một thỏa thuận mà họ phản đối. Hai mươi năm sau, Washington buộc Sài Gòn phải làm điều tương tự. Ukraine đã chống lại áp lực như vậy cho đến nay, nhưng nếu Nga sẵn sàng cắt giảm một thỏa thuận hợp lý, Mỹ và các đồng minh châu Âu sẽ tìm cách đảm bảo rằng Kiev chấp nhận nó. Và điều tương tự cũng sẽ xảy ra ở Iran: một khi chính quyền Trump tìm thấy điểm chung với Cộng hòa Hồi giáo, Mỹ sẽ bác bỏ mong muốn của Israel và vùng Vịnh để giữ vững một đường lối cứng rắn hơn.
Ngày nay, có nhiều cuộc thảo luận lỏng lẻo về việc Washington không đạt được các mục tiêu của mình ở Iran là một dấu hiệu của sự mất quyền lực rộng lớn hơn không thể chối cãi. Gần đây,trong một tiêu đề New York Times tuyên bố: „Trung Quốc ngày càng coi nước Mỹ của Trump là một đế chế đang suy tàn“ và nhiều người trong và ngoài nước đồng tình. Nhưng điều tương tự cũng được nói về sự thất bại ở Việt Nam – chỉ để Hoa Kỳ phục hồi sau thất bại trong vòng vài năm và tiếp tục bá quyền toàn cầu trong nhiều thập niên. Không có gì đảm bảo cho một sự hồi sinh địa chính trị khác như vậy, nhưng sự năng động sáng tạo của chủ nghĩa tư bản Mỹ và khả năng tái tạo của nền dân chủ Mỹ đã kéo các con thỏ ra khỏi các chiếc mũ trong nhiều thế kỷ và không có khả năng ngừng làm như vậy .
Có lẽ khía cạnh nổi bật nhất của tất cả những vần điệu lịch sử này là sự lặp đi lặp lại, ngây thơ, trên diện rộng của các nhà lãnh đạo thời chiến, những người tình cờ cho rằng lực lượng quân sự có thể dễ dàng mang lại lợi ích chính trị, rằng kẻ thù sẽ không đáp trả, và rằng việc lập kế hoạch chiến lược nghiêm túc là không cần thiết. Trong chiến tranh cũng như trên thị trường, những từ nguy hiểm nhất có thể là „lần này đã khác“.
***
Gideon Rose là thành viên cao cấp tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại và là tác giả của How Wars End.