Liệu Mỹ và Trung Quốc có chú ý đến những cảnh báo về thảm họa của thế kỷ XX không?
Foreign Affairs
Số tháng 7/8 năm 2024
Đỗ Kim Thêm dịch

Ảnh: Ricardo Tomás
Trong tác phẩm “Sự trỗi dậy của tinh thần đối kháng Anh – Đức, 1860 -1914” nhà sử học người Anh Paul Kennedy đã giải thích bằng cách nào mà hai dân tộc có truyền thống thân thiện lại rơi vào vòng xoáy thù địch nhau làm dẫn đến Đệ Nhất Thế chiến. Các lực lượng cấu trúc chính đã thúc đẩy sự cạnh tranh giữa Đức và Anh là cưỡng chế kinh tế, địa lý và ý thức hệ. Sự trỗi dậy kinh tế nhanh chóng của Đức đã thay đổi cán cân quyền lực và cho phép Berlin mở rộng phạm vi chiến lược của mình. Một số của hoạt động mở rộng này – đặc biệt là trên biển – diễn ra ở những khu vực mà Anh có lợi ích chiến lược sâu đậm và lâu dài. Hai cường quốc ngày càng coi nhau là những kẻ đối đầu về ý thức hệ, phóng đại một cách điên cuồng về sự khác biệt của họ. Người Đức đã châm biếm xem người Anh là những kẻ bóc lột tiền bạc thế giới, còn người Anh miêu tả người Đức là những kẻ độc tài có khuynh hướng bành trướng và đàn áp.
Hai nước dường như đang trên đà va chạm nhau và chuẩn bị gây chiến. Nhưng đó không phải những áp lực do cơ cấu có ý nghiã quan trọng đến độ đã châm ngòi cho Đệ Nhất Thế chiến. Chiến tranh bùng nổ là do những quyết định ngẫu nhiên của các cá nhân và sự thiếu trí tưởng tượng sâu xa của cả hai bên. Chắc chắn là chiến tranh đã luôn có thể xảy ra, nhưng chiến tranh chỉ không thể tránh khỏi nếu người ta tán thành quan điểm phi lịch sử sâu xa là việc thỏa hiệp giữa Đức và Anh là không thể.
Chiến tranh có thể đã không xảy ra nếu các nhà lãnh đạo Đức sau thời Thủ tướng Otto von Bismarck không trơ tráo trong việc thay đổi cán cân sức mạnh về hải quân. Đức tôn vinh sự thống trị ở châu Âu và khẳng định các quyền như một cường quốc của mình, bác bỏ những lo ngại về các quy tắc và chuẩn mực ứng xử quốc tế. Tư thế đó khiến các nước khác lo ngại, không chỉ riêng Anh. Và thật khó để Đức tuyên bố, như họ đã làm, rằng họ muốn tạo ra một trật tự thế giới mới, công bằng và toàn diện hơn trong khi đe dọa các nước láng giềng và liên minh với một Đế quốc Áo – Hung đang suy tàn và đang cố gắng phủ nhận những khát vọng quốc gia của các dân tộc ngay bên biên giới.
Một tầm nhìn tương tự đã chiếm ưu thế ở phía bên kia đường hầm. Winston Churchill, tư lệnh hải quân Anh, kết luận vào năm 1913 rằng, vị thế vượt trội trên toàn cầu của Anh “thường có vẻ kém hợp lý đối với nước khác hơn là đối với chúng ta”. Quan điểm của người Anh về nước khác có xu hướng thiếu sự tự nhận thức đó. Các quan chức và nhà bình luận đã chỉ trích gay gắt Đức, đặc biệt về các hoạt động thương mại không công bằng của Đức. London quan sát Berlin một cách thận trọng, giải thích hành động của Đức là bằng chứng cho ý định tấn công và không hiểu được nỗi lo sợ của Đức đối với nền an ninh của chính mình trên một lục địa nơi nước này bị bao vây bởi những kẻ thù còn tiềm ẩn. Tất nhiên, sự thù địch của Anh chỉ làm sâu sắc thêm nỗi sợ hãi của người Đức và khơi dậy tham vọng của họ. Kennedy than vãn: “Dường như rất ít người có được sự hào phóng hoặc sáng suốt để tìm kiếm sự cải thiện trên quy mô lớn trong mối quan hệ Anh – Đức”.
Sự hào phóng hay sáng suốt như vậy cũng đang thiếu nghiêm trọng trong mối quan hệ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ ngày nay. Giống như Đức và Anh trước Đệ nhất Thế chiến, Trung Quốc và Mỹ dường như bị mắc kẹt trong một vòng xoáy hướng hạ, một vòng xoáy có thể kết thúc trong thảm họa cho cả hai nước và cho cả thế giới nói chung. Tương tự như tình hình một thế kỷ trước, các yếu tố về cấu trúc sâu thẳm đã thúc đẩy sự đối nghịch. Cạnh tranh kinh tế, lo ngại về địa chính trị và ngờ vực sâu đậm có tác dụng làm cho xung đột dễ xảy ra hơn.
Nhưng cấu trúc không phải là số phận. Những quyết định mà các nhà lãnh đạo đưa ra có thể ngăn chặn chiến tranh và xử lý tốt hơn những căng thẳng mà nó luôn gia tăng từ sự cạnh tranh giữa các đại cường. Giống như Đức và Anh, các lực lượng về cấu trúc có thể đẩy các biến cố lên đến đỉnh điểm, nhưng chính sự hám lợi và thiếu năng lực của con người ở quy mô khổng lồ mới khiến thảm họa xảy ra sau đó. Tương tự như vậy, khả năng phán đoán và năng lực đúng đắn có thể ngăn chặn những kịch bản xấu nhất.
Các ranh giới được vạch ra
Giống như sự thù địch giữa Đức và Anh trong hơn một thế kỷ, sự đối nghịch giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ có nguồn gốc về cấu trúc sâu xa. Nó có thể được bắt nguồn từ sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh. Trong giai đoạn sau của cuộc xung đột qui mô đó, Bắc Kinh và Washington gần như là đồng minh vì cả hai đều sợ sức mạnh của Liên Xô nhiều hơn là họ sợ nhau. Nhưng sự sụp đổ của nhà nước Xô Viết, kẻ thù chung của họ, gần như có nghĩa ngay là giới hoạch định chính sách tập trung vào những gì đã chia rẽ Bắc Kinh và Washington hơn là những gì đã làm họ đoàn kết. Hoa Kỳ ngày càng lên án chính quyền đàn áp Trung Quốc. Trung Quốc phẫn nộ với quyền bá chủ toàn cầu can thiệp của Hoa Kỳ.
Nhưng đào sâu về các quan điểm này không dẫn đến việc suy sụp ngay trong mối quan hệ Mỹ – Trung. Trong một thập niên rưỡi sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, các chính quyền liên tiếp của Mỹ tin rằng họ có nhiều thắng lợi từ việc hỗ trợ cho việc hiện đại hóa và tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc. Giống như người Anh, những người ban đầu ủng hộ việc thống nhất nước Đức vào năm 1870 và sự mở rộng kinh tế của Đức sau đó, người Mỹ bị thúc đẩy bởi lợi ích vị kỷ để tiếp tay cho sự trỗi dậy của Bắc Kinh. Trung Quốc là một thị trường khổng lồ cho hàng hóa và vốn của Hoa Kỳ, và hơn thế nữa, Trung Quốc dường như có ý định kinh doanh theo kiểu Mỹ, du nhập thói quen và ý tưởng của người tiêu dùng Mỹ về cách thị trường nên vận hành dễ dàng như khi họ theo phong cách và thương hiệu Mỹ.
Tuy nhiên, ở cấp độ địa chính trị, Trung Quốc thận trọng hơn với Hoa Kỳ. Sự sụp đổ của Liên Xô đã gây sốc cho các nhà lãnh đạo Trung Quốc, và thành công quân sự của Mỹ trong Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 khiến họ ý thức rằng Trung Quốc hiện đang tồn tại trong một thế giới đơn cực, mà trong đó Mỹ có thể triển khai sức mạnh của mình gần như theo ý muốn. Ở Washington, nhiều người đã cảm thấy khó chịu trước việc Trung Quốc sử dụng vũ lực chống lại chính người dân của mình tại Quảng trường Thiên An Môn năm 1989 và những nơi khác. Giống như Đức và Anh trong những năm 1880 và 1890, Trung Quốc và Mỹ bắt đầu nhìn nhau với thái độ thù địch nhiều hơn ngay cả khi các trao đổi kinh tế mở rộng.
Điều gì thực sự làm thay đổi động lực giữa hai nước là sự thành công kinh tế vượt trội của Trung Quốc. Cuối năm 1995, GDP của Trung Quốc chỉ bằng khoảng 10% GDP của Mỹ. Đến năm 2021, Trung Quốc đã tăng lên khoảng 75% GDP của Mỹ. Năm 1995, Mỹ sản xuất khoảng 25% sản lượng sản xuất của thế giới, còn Trung Quốc sản xuất chưa tới 5%. Nhưng hiện nay, Trung Quốc đã vượt qua Mỹ. Năm ngoái, Trung Quốc sản xuất gần 30% sản lượng sản xuất của thế giới và Mỹ chỉ sản xuất được 17%. Đây không phải là những con số duy nhất phản ánh tầm quan trọng về kinh tế của một quốc gia, nhưng cho thấy ý nghĩa của một quốc gia trên thế giới và cho biết năng lực chế tạo nên mọi thứ nằm ở đâu, bao gồm cả vũ khí quân sự.
Ở cấp độ địa chính trị, quan điểm của Trung Quốc về Hoa Kỳ bắt đầu u ám hơn vào năm 2003 với cuộc xâm lược và chiếm đóng Iraq. Trung Quốc phản đối cuộc tấn công do Mỹ lãnh đạo, ngay cả khi Bắc Kinh ít quan tâm đến chế độ của Tổng thống Iraq Saddam Hussein. Hơn cả khả năng quân sự tàn phá của Hoa Kỳ, điều thực sự gây sốc cho các nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh là việc Washington có thể dễ dàng gạt bỏ các vấn đề về chủ quyền và không can thiệp, những quan điểm vốn là yếu tố then chốt của trật tự quốc tế mà người Mỹ đã thuyết phục Trung Quốc tham gia, Giới hoạch định chính sách của Trung Quốc lo ngại, nếu Hoa Kỳ có thể dễ dàng coi thường những chuẩn mực mà Hoa Kỳ kỳ vọng các nước khác tuân thủ thì sẽ không có nhiều hạn chế cho hành vi của Hoa Kỳ trong tương lai. Ngân sách quân sự của Trung Quốc đã tăng gấp đôi từ năm 2000 đến năm 2005 và sau đó lại tăng gấp đôi vào năm 2009. Bắc Kinh cũng triển khai các chương trình nhằm huấn luyện quân đội tốt hơn, nâng cao hiệu quả và đầu tư vào công nghệ mới. Trung Quốc đã cách mạng hóa lực lượng hải quân và tên lửa của mình. Trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến năm 2020, số lượng tàu của Hải quân Trung Quốc đã vượt qua Hải quân Hoa Kỳ.
Một số người lập luận, Trung Quốc sẽ mở rộng đáng kể về khả năng quân sự bất kể là Hoa Kỳ đã làm gì cách đây hai thập niên. Suy cho cùng, điều mà các cường quốc đang trỗi dậy làm khi ảnh hưởng kinh tế của họ gia tăng. Điều đó có thể đúng, nhưng thời điểm cụ thể cho sự bành trướng của Bắc Kinh rõ ràng có liên quan đến nỗi lo sợ của nước này rằng bá chủ toàn cầu có cả ý chí và khả năng kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc nếu họ chọn như vậy. Quá khứ của Iraq có thể là tương lai của Trung Quốc, như một nhà hoạch định quân sự Trung Quốc đã nói với vẻ có phần khoa trương, sau cuộc xâm lược của Mỹ. Ngay khi Đức bắt đầu lo sợ rằng mình sẽ bị hạn chế cả về mặt kinh tế và chiến lược vào những năm 1890 và đầu những năm 1900 – chính xác là khi nền kinh tế Đức đang phát triển với tốc độ nhanh nhất – thì Trung Quốc cũng bắt đầu lo sợ rằng sẽ bị Hoa Kỳ kiềm chế cũng giống như nền kinh tế của mình đã tăng vọt.
Trước khi sụp đổ
Nếu có một ví dụ nào đó về sự kiêu ngạo và sợ hãi cùng tồn tại trong cùng một tinh thần lãnh đạo, thì đó chính là Đức trong thời Vua Wilhelm II. Nước Đức tin rằng cả hai việc, Đức đang trên đà trỗi dậy là không thể tránh khỏi và Anh biểu hiện cho một mối đe dọa sinh tồn đối với sự đi lên của Đức. Báo chí Đức tung tin tràn ngập các giả thuyết về những tiến bộ kinh tế, công nghệ và quân sự của đất nước họ, tiên đoán về một tương lai khi Đức sẽ vượt qua các nước khác. Theo nhiều người Đức (và cả một số người không phải là người Đức), mô hình chính phủ của họ, với sự kết hợp hiệu quả giữa nền dân chủ và thể chế độc tài, khiến cho cả thế giới phải ghen tị. Anh tuyên bố, họ không thực sự là một cường quốc châu Âu, khi nhấn mạnh rằng Đức hiện là cường quốc mạnh nhất trên lục địa và nước này nên được tự do sắp xếp lại khu vực một cách hợp lý tùy theo thực tế về sức mạnh của mình. Và thực ra, nước này sẽ có thể làm được điều đó nếu không có sự can thiệp của Anh và khả năng của Anh có thể hợp tác với Pháp và Nga để ngăn chặn sự thành công của Đức.
Từ những năm 1890 trở đi, tinh thần dân tộc cuồng nhiệt của cả hai nước dâng cao, những quan niệm đen tối hơn về sự ác độc của nước khác cũng như vậy. Ở Berlin, nỗi lo sợ gia tăng rằng các nước láng giềng và Anh sẽ làm chệch hướng sự phát triển tự nhiên trên lục địa và ngăn cản sự thống trị trong tương lai của Đức. Hầu như Đức không biết lối hùng biện gây hấn của mình đã ảnh hưởng đến nước khác như thế nào, các nhà lãnh đạo Đức bắt đầu coi sự can thiệp của Anh là nguyên nhân sâu xa dẫn đến các vấn đề của đất nước họ, cả trong và ngoài nước. Họ coi việc tái vũ trang của Anh và các chính sách hạn chế hơn về thương mại là dấu hiệu của ý định gây hấn. “Vậy là cuộc bao vây nổi tiếng của Đức cuối cùng đã trở thành sự thật đã rồi,” Wilhelm thở dài, khi chiến tranh đang bùng phát vào năm 1914. “Mạng lưới đột nhiên bị đóng lại trên đầu chúng ta, và chính sách thuần túy chống Đức mà Anh đã khinh miệt theo đuổi trên toàn toàn thế giới đã giành được chiến thắng ngoạn mục nhất.” Về phía mình, các nhà lãnh đạo Anh tưởng tượng rằng Đức phải chịu trách nhiệm chính cho sự suy tàn tương đối của Đế quốc Anh, mặc dù nhiều cường quốc khác đang trỗi dậy trước sự tổn thất của Anh.
Ngày nay, Trung Quốc cho thấy nhiều dấu hiệu ngạo mạn và sợ hãi giống nhau như nước Đức thể hiện sau những năm 1890. Giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) vô cùng tự hào khi lèo lái đất nước vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và hậu quả của nó một cách thành thạo hơn so với giới nhà lãnh đạo phương Tây. Nhiều quan chức Trung Quốc coi cuộc suy thoái toàn cầu thời kỳ đó không chỉ là một tai họa do Mỹ gây ra mà còn là biểu tượng của sự chuyển đổi nền kinh tế thế giới từ sự lãnh đạo của Mỹ sang Trung Quốc. Giới lãnh đạo Trung Quốc, bao gồm cả trong giới kinh doanh, đã dành nhiều thời gian để giải thích cho các nước khác rằng, sự trỗi dậy không thể tránh khỏi của Trung Quốc đã trở thành xu hướng quyết định trong các vấn đề quốc tế. Trong các chính sách khu vực, Trung Quốc bắt đầu hành xử một cách quyết đoán hơn đối với các lân bang. Trung Quốc cũng đè bẹp các phong trào đòi quyền tự quyết ở Tây Tạng và Tân Cương, đồng thời làm suy yếu quyền tự trị của Hồng Kông. Và trong những năm gần đây, Trung Quốc thường xuyên khẳng định quyền chiếm đóng Đài Loan bằng vũ lực nếu cần thiết và đã bắt đầu tăng cường chuẩn bị cho một cuộc chinh phục như vậy.
Sự ngạo mạn ngày càng gia tăng của Trung Quốc cùng với tinh thần dân tộc đang trỗi dậy ở Hoa Kỳ đã giúp Donald Trump cho giành được chức tổng thống vào năm 2016, sau khi ông thu hút cử tri bằng cách coi Trung Quốc là một thế lực gian manh trên trường quốc tế. Khi nhậm chức, Trump bắt đầu tăng cường quân sự nhằm chống lại Trung Quốc và phát động cuộc thương chiến để củng cố ưu thế thương mại của Mỹ, đánh dấu một bước đột phá rõ ràng khỏi các chính sách ít thù địch hơn mà người tiền nhiệm Barack Obama theo đuổi. Khi Joe Biden thay thế cho Trump vào năm 2021, ông đã duy trì nhiều chính sách của Trump nhắm vào Trung Quốc – được thúc đẩy bởi sự đồng thuận lưỡng đảng coi Trung Quốc là mối đe dọa lớn đối với lợi ích của Hoa Kỳ – và từ đó đã áp đặt thêm các hạn chế thương mại nhằm gây khó khăn hơn cho các doanh nghiệp Trung Quốc để có được nền công nghệ tinh vi.
Bắc Kinh đã phản ứng trước sự thay đổi đường lối cứng rắn này của Washington bằng cách thể hiện nhiều tham vọng củng như nỗi bất an trong cách đối xử với các nước khác. Một số lời phàn nàn của Bắc Kinh về cách hành xử của Mỹ rất giống với những lời phàn nàn mà Đức đã đưa ra để chống lại Anh vào đầu thế kỷ XX. Bắc Kinh đã cáo buộc Washington đang cố gắng duy trì một trật tự thế giới vốn dĩ đã là bất công – lời cáo buộc tương tự mà Berlin đã đưa ra ở London. “Điều mà Hoa Kỳ liên tục tuyên bố là bảo tồn cái gọi là trật tự quốc tế được thiết kế để phục vụ lợi ích và duy trì quyền bá chủ của chính Hoa Kỳ”, một sách trắng được công bố vào tháng 6 năm 2022 do Bộ Ngoại giao Trung Quốc xuất bản. “Bản thân Hoa Kỳ là nguồn gây rối lớn nhất đối với trật tự đích thực của thế giới.”
Trong khi đó, Hoa Kỳ đang cố gắng phát triển một chính sách với Trung Quốc mà nó nhằm kết hợp giữa răn đe với hợp tác hạn chế, tương tự như những gì mà Anh đã làm khi phát triển chính sách đối với Đức vào đầu thế kỷ XX. Theo Chiến lược An ninh Quốc gia của chính quyền Biden vào tháng 10 năm 2022, “Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nuôi dưỡng ý định và ngày càng tăng lên, có khả năng định hình lại trật tự quốc tế theo hướng sân chơi toàn cầu có lợi cho họ”. Mặc dù phản đối việc định hình lại như vậy, chính quyền Biden nhấn mạnh rằng sẽ “luôn sẵn sàng làm việc với Trung Quốc khi lợi ích của chúng ta phù hợp”. Để củng cố quan điểm, chính quyền Biden tuyên bố: “Chúng ta không thể để những bất đồng chia rẽ chúng ta làm ngăn cản chúng ta tiến tới những ưu tiên mà nó đòi hỏi chúng ta hợp tác”. Vấn đề hiện nay là – giống như những năm trước 1914 – bất kỳ việc mở rộng cho sự hợp tác nào, ngay cả trong những vấn đề chủ yếu, đều bị lạc lối trong những cáo buộc nhau, những bực tức nhỏ nhặt và sự bất tín nhiệm về mặt chiến lược ngày càng sâu đậm.
Trong mối quan hệ Anh – Đức, có ba điều kiện chính dẫn từ tình trạng đối nghịch ngày càng gia tăng đưa đến chiến tranh. Điều kiện đầu tiên là người Đức ngày càng tin rằng Anh sẽ không cho phép Đức trỗi dậy trong bất kỳ trường hợp nào. Đồng thời, giới lãnh đạo Đức dường như không có khả năng để giải thích cho người Anh hoặc bất kỳ ai khác một cách cụ thể về việc trỗi dậy của đất nước họ sẽ hoặc không tái tạo lại thế giới như thế nào. thứ hai là cả hai bên đều lo ngại tình trạng suy yếu về vị thế của mình trong tương lai. Trớ trêu thay, quan điểm này đã khuyến khích một số nhà lãnh đạo tin rằng nên sớm tiến hành chiến tranh hơn là để muộn. Điều kiện thứ ba là gần như thiếu hoàn toàn sự thông đạt về mặt chiến lược. Năm 1905, Alfred von Schlieffen, tổng tham mưu trưởng Đức, đề xuất một kế hoạch tác chiến nhằm đảm bảo một chiến thắng nhanh chóng trên lục địa, nơi Đức phải tính đến cả Pháp và Nga. Điều quan trọng là kế hoạch này liên quan đến việc xâm lược Bỉ, một hành động khiến cho Anh có lý do trước mắt để tham chiến chống Đức. Như Kennedy đã nói, “Sự đối nghịch giữa hai nước đã xuất hiện từ trước khi kế hoạch của Schlieffen trở thành chiến lược quân sự duy nhất của Đức; nhưng chính thiên tài siêu phàm của Bộ Tổng tham mưu Phổ đã tạo cơ hội để biến sự đối nghịch đó thành chiến tranh.”
Tất cả những điều kiện này hiện nay dường như đã được áp dụng trong mối quan hệ Mỹ – Trung. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và giới lãnh đạo ĐCSTQ tin rằng mục tiêu chính của Hoa Kỳ là ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc bằng mọi giá. Những tuyên bố của chính Trung Quốc về tham vọng quốc tế của họ nhạt nhẽo đến mức gần như vô nghĩa. Trong nội bộ, giới lãnh đạo Trung Quốc quan ngại một cách nghiêm túc về nền kinh tế đang trì trệ của đất nước và lòng trung thành của dân chúng. Trong khi đó, Hoa Kỳ bị phân hoá về mặt chính trị đến mức việc quản lý hiệu quả trong lâu dài gần như trở nên bất khả thi. Việc hiểu lầm về mặt chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ còn tiềm tàng là chín mùi, bời vì sự tương tác giữa hai bên còn hạn chế. Tất cả các bằng chứng hiện tại chỉ ra rằng Trung Quốc đang thực hiện các kế hoạch quân sự để xâm lược Đài Loan vào một ngày nào đó, nó tạo ra một cuộc chiến giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ giống như kế hoạch Schlieffen đã góp phần tạo ra một cuộc chiến giữa Đức và Anh.
Kịch bản mới
Những điểm tương đồng nổi bật trong lúc đầu thế kỷ XX, thời kỳ chứng kiến thảm họa tột cùng, cho thấy một tương lai đen tối của sự đối đầu đang leo thang. Nhưng xung đột có thể tránh được. Nếu muốn ngăn chặn một cuộc chiến, họ phải thuyết phục giới lãnh đạo Trung Quốc rằng, Hoa Kỳ không nhất quyết ngăn chặn sự phát triển kinh tế của Trung Quốc trong tương lai. Trung Quốc là một đất nước rộng lớn, có những ngành công nghiệp ngang bằng với Hoa Kỳ. Nhưng giống như Đức năm 1900, Trung Quốc cũng có những vùng nghèo và chưa phát triển. Bằng lời nói hoặc việc làm, Hoa Kỳ không thể lặp lại với người Trung Quốc điều mà người Đức hiểu người Anh đã nói với họ cách đây một thế kỷ: nếu bạn chỉ ngừng phát triển, thì sẽ không có vấn đề.
Đồng thời, các ngành công nghiệp của Trung Quốc không thể tiếp tục phát triển vô giới hạn đến mức gây thiệt hại cho các nước khác. Động thái thông minh nhất mà Trung Quốc có thể thực hiện về thương mại là đồng ý điều tiết xuất khẩu của mình theo cách không làm cho ngành công nghiệp nội địa của các nước khác không thể cạnh tranh trong các lĩnh vực quan trọng như xe điện hoặc tấm pin mặt trời và các thiết bị cần thiết khác cho tiến trình khử cacbon. Nếu Trung Quốc tiếp tục tung tràn ngập vào các thị trường nước khác với những sản phẩm loại giá rẻ, nhiều quốc gia, bao gồm cả một số quốc gia không quá lo ngại về sự tăng trưởng của Trung Quốc, sẽ bắt đầu đơn phương hạn chế hàng hóa của Trung Quốc trong việc thâm nhập thị trường.
Các cuộc thương chiến vô giới hạn không mang lại lợi ích cho bất kỳ ai. Các quốc gia đang ngày càng áp đặt mức thuế cao hơn đối với hàng nhập khẩu và hạn chế thương mại cũng như sự di chuyển vốn. Nhưng nếu xu hướng này biến thành một loạt thuế quan, thì thế giới sẽ gặp rắc rối, cả về mặt kinh tế cũng như chính trị. Trớ trêu thay, Trung Quốc và Mỹ có thể sẽ là những người thua lổ thuần tuý nếu các chính sách bảo hộ được áp dụng ở khắp mọi nơi. Như một hiệp hội thương mại Đức đã cảnh báo vào năm 1903, lợi ích trong nước của các chính sách bảo hộ “sẽ không đáng kể nếu so với tác hại khôn lường mà một cuộc chiến thuế quan như vậy sẽ gây ra cho lợi ích kinh tế của cả hai nước”. Các cuộc thương chiến cũng góp phần đáng kể vào việc bùng nổ một cuộc chiến tranh thực sự vào năm 1914.
Ngăn chặn các cuộc thương chiến chỉ là bước khởi đầu, nhưng Bắc Kinh và Washington cũng nên làm việc để chấm dứt hoặc ít nhất là ngăn chặn các cuộc chiến tranh nóng có thể gây ra xung đột rộng hơn. Trong cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa các đại cường, ngay cả những xung đột nhỏ cũng có thể dễ dàng gây ra những hậu quả tai hại, như sự dẫn đến Đệ nhất Thế chiến đã cho thấy. Ví dụ như cuộc chiến tranh xâm lược của Nga tại Ukraine hiện nay. Các cuộc tấn công và phản công năm ngoái không làm thay đổi nhiều ở tiền tuyến; các nước phương Tây hy vọng hợp tác để hướng tới một lệnh ngừng bắn ở Ukraine trong những điều kiện tốt nhất mà lòng dũng cảm của người Ukraine và vũ khí phương Tây có thể đạt được. Hiện nay, chiến thắng của Ukraine sẽ bao gồm việc đẩy lùi cuộc tấn công tổng lực ban đầu vào năm 2022 của Nga cũng như các điều khoản chấm dứt việc giết người Ukraine, đẩy nhanh việc gia nhập Ukraine vào Liên Âu và Kyiv nhận được sự bảo đảm an ninh từ phương Tây trong trường hợp Nga vi phạm lệnh ngừng bắn. Nhiều người ở phe phương Tây hy vọng rằng Trung Quốc có thể đóng vai trò xây dựng trong các cuộc đàm phán như vậy, vì Bắc Kinh đã nhấn mạnh “tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của tất cả các quốc gia”. Trung Quốc nên nhớ rằng một trong những sai lầm lớn của Đức trước Đệ nhất Thế chiến là bất động đứng nhìn khi Áo -Hungary quấy rối các nước láng giềng ở Balkan ngay cả khi các nhà lãnh đạo Đức kêu gọi các nguyên tắc cao cả của công lý quốc tế. Tinh thần đạo đức giả này đã góp phần gây ra chiến tranh vào năm 1914. Hiện nay, Trung Quốc đang lặp lại sai lầm đó trong cách đối xử với Nga.
Dù cuộc chiến ở Ukraine hiện nay đang gây căng thẳng nhất, nhưng Đài Loan có thể là vùng Balkan của thập niên 2020. Cả Trung Quốc và Mỹ dường như đang mộng du hướng tới một cuộc đối đầu xuyên eo biển vào một thời điểm nào đó trong thập niên tới. Ngày càng có nhiều chuyên gia về chính sách đối ngoại của Trung Quốc cho rằng hiện nay chiến tranh Đài Loan có nhiều khả năng xảy ra hơn là không và giới hoạch định chính sách của Mỹ đang bận tâm với vần đề làm thế nào để hỗ trợ hòn đảo này tốt nhất. Điều đáng chú ý về tình hình Đài Loan là tất cả những người liên quan đều thấy rõ – có lẽ, ngoại trừ những người Đài Loan kiên định nhất với việc giành được độc lập chính thức – rằng chỉ có một sự thỏa hiệp khả thi mới có thể giúp tránh được thảm họa. Trong Thông cáo Thượng Hải năm 1972, Hoa Kỳ thừa nhận chỉ có một Trung Quốc và Đài Loan là một phần của Trung Quốc. Bắc Kinh đã nhiều lần tuyên bố rằng họ tìm kiếm sự thống nhất hòa bình cuối cùng với Đài Loan. Việc tái xác định những nguyên tắc này ngày nay sẽ giúp ngăn ngừa xung đột: Washington có thể nói rằng trong mọi trường hợp sẽ không ủng hộ sự độc lập của Đài Loan, và Bắc Kinh có thể tuyên bố rằng sẽ không sử dụng vũ lực trừ khi Đài Loan chính thức thực hiện các biện pháp hướng tới việc trở thành độc lập. Một thỏa hiệp như vậy sẽ không làm cho mọi vấn đề liên quan đến Đài Loan được giải quyết. Nhưng nó sẽ làm cho một cuộc chiến giữa các cường quốc về Đài Loan ít có khả năng xảy ra hơn.
Kiềm chế việc đối đầu kinh tế và giảm bớt các điểm nóng còn tiềm ẩn trong khu vực là chủ yếu để tránh lặp lại kịch bản của Anh – Đức, nhưng sự gia tăng tình trạng thù địch giữa Trung Quốc và Mỹ cũng khiến nhiều vấn đề khác trở nên cấp bách. Các sáng kiến về kiểm soát vũ khí và giải quyết các xung đột khác, chẳng hạn như giữa Israel và Palestine, là nhu cầu rất cần kíp. Có đòi hỏi về những dấu hiệu của tinh thần tương kính. Vào năm 1972, khi các nhà lãnh đạo Liên Xô và Mỹ dồng thuận về việc đề ra “Những nguyên tắc cơ bản trong quan hệ giữa Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ và Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết”, tuyên bố chung hầu như không đạt được điều gì cụ thể. Nhưng nó đã xây dựng được một chút niềm tin giữa cả hai bên và giúp thuyết phục nhà lãnh đạo Liên Xô Leonid Brezhnev rằng người Mỹ sẽ không ra tay để gây hại cho ông. Nếu ông Tập, giống như Brezhnev, có ý định giữ chức lãnh đạo suốt đời, thì đó là một việc đầu tư đáng giá nên làm.
Tình trạng gia tăng căng thẳng giữa các đại cường cũng tạo ra nhu cầu duy trì việc răn đe đáng tin cậy. Có một huyền thoại dai dẳng rằng các hệ thống liên minh đã dẫn đến chiến tranh vào năm 1914 và mạng lưới các hiệp ước phòng thủ hổ tương đã khiến các chính phủ rơi vào một cuộc xung đột mà việc kiềm chế là bất khả. Thực ra, điều khiến chiến tranh gần như chắc chắn xảy ra sau khi các cường quốc châu Âu bắt đầu huy động lực lượng để chống nhau vào tháng 7 năm 1914 là niềm hy vọng thiếu cân nhắc của Đức rằng, rốt cuộc Anh có thể sẽ không đến hỗ trợ cho thân hữu và đồng minh của mình. Đối với Hoa Kỳ, điều chủ yếu là không đưa ra bất kỳ nguyên nhân nào dẫn đến những sai lầm như vậy trong thập niên tới. Hoa Kỳ nên tập trung sức mạnh quân sự của mình ở Ấn Độ -Thái Bình Dương, biến lực lượng đó thành lực lượng ngăn chặn có hiệu quả trước sự xâm lược của Trung Quốc. Và Hoa Kỳ sẽ tiếp thêm sinh lực cho khối NATO, trong đó châu Âu phải gánh chịu một phần gánh nặng về quốc phòng lớn hơn nhiều.
Các nhà lãnh đạo có thể học hỏi từ trong quá khứ theo cả hai phương cách tích cực và tiêu cực về những gì nên làm và không nên làm. Nhưng trước hết họ phải học những bài học trọng đại, và quan trọng nhất là làm sao tránh những cuộc chiến tranh khủng khiếp làm cho các thành tích của nhiều thế hệ thành tan nát.
***
Odd Arne Westad là Giáo sư Lịch sử và Các vấn đề toàn cầu của Đại học Yale và là đồng tác giả với Chen Jian của một cuốn sách mới sắp xuất bản The Great Transformation: China’s Road From Revolution to Reform.