David Dayen
Đỗ Kim Thêm dịch

Ảnh minh hoạ Daniel Zender
Phong trào cứu vớt nền dân chủ để thoát ra khỏi các mối đe dọa đã tiến hành nhanh chóng đến độ đã xem thường các vấn đề tồn tại từ khi lập quốc.
Trong hai cuộc bầu cử tổng thống vừa qua, Đảng Dân chủ đã dành phần lớn, một số có thể nói là tất cả, để cảnh báo về các mối đe dọa đối với nền dân chủ do Donald Trump thể hiện. Cuộc bầu cử năm 2024 đã được đưa ra không phải là một sự lựa chọn về thuế hoặc y tế hoặc chính sách xã hội, mà là một thử nghiệm cuối cùng về việc liệu là chúng ta sẽ có một nền cộng hòa hay một chế độ độc tài.
Trump là một chủ đề đáng quan tâm nhiều hơn đối với bất kỳ ai đang hy vọng cho nền dân chủ vào năm 2025. Lần cuối cùng khi Trump còn làm tổng thống, ông đã tích cực chống lại việc chuyển quyền trong êm thắm, một dấu hiệu của những kẻ chuyên chế trên toàn thế giới. Trong phạm vi mà ông và các cố vấn thích độc đoán của mình đã học được bất cứ điều gì từ nhiệm kỳ đầu tiên, đó là làm thế nào để vô hiệu hóa những trở ngại đối với việc mở rộng quyền lực. Suy nghĩ của ông về việc là một „nhà độc tài ngay vào ngày đầu tiên“ thực sự không phải là câu chuyện rời rạc. Các kế hoạch bắt nguồn từ nhóm cộng sự của Trump nhằm phá hủy nền công vụ, thuê luật sư của chính phủ để ghi dấu các hành động vi hiến và truy tố kẻ thù cá nhân, và thậm chí phối trí quân đội trên đất Mỹ là thực sự đáng báo động.
Nhưng có điều gì đó làm cho tôi băn khoăn về thuật ngữ „mối đe dọa đối với nền dân chủ“. Nó đã trở thành một từ khoá để chống lại chủ thuyết cực đoan bảo thủ, và đặc biệt là Trump. Tuy nhiên, những khiếm khuyết trong nền dân chủ Mỹ đã quay lui lại ngay từ thời lập quốc, và vòng cung dài của lịch sử đã không đến gần để cải thiện tất cả vấn đề. Cuộc khủng hoảng lan rộng hơn mà chúng ta đối mặt hiện nay không chỉ quy kết cho một cá nhân có ác ý đối với chính phủ của chúng ta, hệ thống của chính phủ tự nó là vấn đề nhiều hơn.
Chúng ta đang cố gắng cứu vớt phần nào của nền dân chủ là chính xác? Có phải chăng đó là cơ quan lập pháp dân chủ của chúng ta bị thao túng từ việc thay đổi các địa phận tranh cử và phân bổ sai lệch vượt ra khỏi sự công nhận, với các ngưỡng siêu đa số mà nó phủ nhận luật lệ ngay cả khi bởi đa số bị lũng đoạn không? Có phải chăng đó là nhiệm kỳ tổng thống dân chủ của chúng ta, mà Trump đã nắm quyền hợp pháp sau khi mất phiếu phổ thông vào năm 2016, và George W. Bush làm theo cách tương tự 16 năm trước đó không? Có phải chăng đó là nền tư pháp dân chủ của chúng ta, nó được biến thành một cơ quan siêu lập pháp và thường xuyên bóp méo Hiến pháp để tạo lợi thế cho những người có quyền lực, tiền bạc và ảnh hưởng không?
Có phải chúng ta lo âu về một nền dân chủ mà nó có thể dễ dàng bị mua chuộc, nơi các nhà vận động hành lang cho doanh nghiệp giành được bất cứ điều gì họ muốn tại Quốc hội, hoặc là thắng được bằng cách thay đổi luật lệ hoặc hiệp ước thương mại quốc tế về bất cứ điều gì họ không muốn không? Có phải chính phủ này, nơi mà việc tu chỉnh quan trọng nhất về sai lầm nguyên thủy trong nền dân chủ của chúng ta, quyền công dân hạng hai của người da đen, hiện đang bị đảo ngược thường xuyên do các cơ quan lập pháp tiểu bang và tòa án, nó có được chúng ta ủng hộ không? Có phải sự thất vọng về việc mất mát một cái gì đó đã tạo ra cơ hội, công lý bất bình đẳng và chuyển đổi quyền lực kinh tế thành chính trị không? Đâu là nơi mà chúng ta có thể tìm thấy cần phải đấu tranh để bảo tồn trong nền dân chủ này?
Không có nền dân chủ nào tinh lọc một cách toàn hảo về ý nguyện của dân chúng. Nhưng nước Mỹ là tồi tệ quá đặc biệt trong việc đạt được kết quả dân chủ. Thật đáng bỏ công để tập trung sức lực của chúng ta nhằm thay đổi điều đó, bởi vì sự tương ưng thay thế thực sự ra là quá nghiệm trọng và buồn thảm để suy ngẫm. Nhưng ở đây chỉ có một vài lựa chọn. Chúng ta có thể bảo vệ „nền dân chủ“ như một khái niệm vô hình mà đất nước này gần như chưa bao giờ sống cho phù hợp. Chúng ta có thể phát hiện ra các lối thoát, né tránh các luật lệ trong ngắn hạn hoặc là nhằm để loại tư cách của ông Trump và mối đe dọa mà ông đại diện, hoặc là để hành động đối với các thách thức về chính sách. Chúng ta biết tên của những việc hỗ trợ này: hòa giải về ngân sách, Đạo luật về cải cách việc đếm cử tri, Tu chính án thứ 14.
Nhưng chúng ta không được sống như những nhân vật chính trị giống Houdini, cố gắng không ngừng tìm cách thoát ra khỏi xiềng xích do ngay trong hệ thống chính phủ của chúng ta áp đặt. Nếu một phong trào chính trị tự tạo ra một phong cách như là vị cứu tinh của nền dân chủ, thì cũng nên nói rõ ràng về vô số khiếm khuyết trong nền dân chủ của chúng ta và những gì thực sự cần cải thiện.
Nền dân chủ Mỹ không thành công qua mức, mặc dù không phải là nền dân chủ lâu đời nhất trên thế giới, mà vì là thực tế đó. Các bậc quốc phụ, gốc gác là giới quý tộc, đầu cơ đất đai và chủ nô, họ có khát vọng cao cả nhưng có niềm tin hạn chế nơi nền dân chủ đích thực. Họ không tin vào việc tập hợp quyền lực, cho dù là trong một vương quốc, các đảng phái chính trị hay nơi người dân. Như nhà sử học Terry Bouton đã viết, những nhà lập quốc như Alexander Hamilton và Elbridge Gerry ghét một „nền dân chủ qu1 mức“ mà nó có thể dẫn đến sự bùng nổ đầy nguy hiểm cho việc bình đẳng kinh tế.
Do đó, họ đã nghĩ ra một hệ thống được xây dựng cho một quốc gia nông nghiệp nhỏ, nhằm mục đích giải quyết các thách thức xã hội vô cùng khó khăn. Các vị tổng thống không được thành lập chính phủ, và cơ quan lập pháp chịu trách nhiệm ban hành luật được bầu ra vào những thời điểm khác nhau. Các nhà soạn thảo muốn Hạ viện, Thượng viện và nhiệm kỳ tổng thống cạnh tranh nhau, kiềm chế quyền lực nhau, và trong cuộc cạnh tranh đó để vô hiệu hóa mong muốn của người dân, ngay cả khi họ tạo nên đa số. Montesquieu, triết gia người Pháp, người đã truyền cảm hứng cho các bậc quốc phụ để xây dựng một hệ thống kiểm tra và cân bằng, hy vọng một chính phủ được hình thành như vậy „nên tạo ra một tình trạng yên tỉnh hoặc bất động một cách tự nhiên“.
Bằng chứng rõ ràng nhất là bằng cách nào mà phương cách này đã làm sai lệch đối với thế giới hiện đại là vấn đề khi chúng ta lật đổ theo định kỳ những người mà chúng ta xem là kẻ thù và thiết lập cái mà chúng ta gọi là nền dân chủ ở các quốc gia khác, chúng ta hầu như không bao giờ sử dụng các khía cạnh chủ yếu của hệ thống của chính mình. Chính phủ liên bang Iraq có một tổng thống bù nhìn và một quốc hội, với thủ tướng là người đứng đầu chính phủ. Các nền dân chủ được thiết lập sau Thế chiến II ở Đức, Nhật Bản và Ý cũng được đưa ra một khuôn khổ tương tự.
Trong một cấu trúc nghị viện, người đứng đầu chính phủ điều hành cơ quan lập pháp. Các liên minh có thể sụp đổ, nhưng sau đó các cuộc bầu cử nhanh được tổ chức cho một đa số mới có thể áp dụng nền tảng của nó. Nước Mỹ có thể có chính phủ chia rẽ vô thời hạn; kể từ năm 1980, nhiệm kỳ tổng thống và cả hai viện của Quốc hội chỉ nằm trong cùng trong tay của một đảng trong 12 năm sáu tháng (từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2001, sau đó một sự thay đổi đảng đã lật ngược Thượng viện), với 31 năm rưỡi còn lại bị chia rẽ. Cả Quốc hội và tổng thống đều có thể tuyên bố dành quyền thụ uỷ của dân chúng để ngăn chặn đối phương, điều này trong trường hợp tốt nhất là nó dẫn đến sự bế tắc bất toại và trong trường hợp tồi tệ nhất là nó dẫn đấn việc khủng hoảng vĩnh viễn.
Trong chín cuộc bầu cử quốc gia vừa qua, Mỹ đã thay đổi ít nhất một viện của Quốc hội hoặc nhiệm kỳ tổng thống mỗi lần ngoại trừ năm 2012. Hơn một nửa trong số các cuộc bầu cử đó là long trời lở đất: 2006, 2008, 2010, 2014 và 2018. Hoạt động lập pháp trong hai thập niên đó không có cách nào phù hợp với các nhiệm vụ thụ uỷ liên tiếp của Đảng Dân chủ và Cộng hòa. Bỏ qua tinh thần tôn sùng lưỡng đảng, có những khác biệt thực sự về quan điểm ở Mỹ mà nó cần được giải quyết thông qua các cuộc bầu cử. Nhưng cử tri vẫn tiếp tục bầu một đảng mới để thực hiện những lời hứa bị mà nó bị cản trở bởi cấu trúc của hệ thống chính trị và sự thiên vị trong hiện trạng của nó.
Bài tiểu luận năm 1990 “Những hiểm họa của Tổng thống chế“ của nhà khoa học chính trị Juan Linz đưa ra trường hợp rằng các chính phủ có các tổng thống được bầu một cách riêng biệt nổi tiếng là không ổn định. Nền dân chủ Mỹ đã né tránh những cuộc hạ màn này trong nhiều thập niên, Linz giải thích đó là do sự linh hoạt về mặt ý thức hệ giữa các đảng. Tất nhiên, bất cứ ai nhắm về những „thời hoàng kim“ này đều đang ghim vào chủ thuyết chủng tộc mà nó là lý do chính cho hoàn cảnh tạm thời này. Những người theo chủ thuyết phân biệt thuộc miền Nam có mối quan hệ lịch sử với đảng Dân chủ bị ràng buộc với đảng trong phần lớn thế kỷ 20, với những đảng viên Cộng hòa tự do gắn bó với quá khứ cực đoan của đảng. Điều này đã mang lại cho đảng Dân chủ và Cộng hòa hai cánh tự do và bảo thủ riêng biệt, tạo ra áp lực cho việc thỏa thuận giữa các đảng.
Sau khi Lyndon Johnson ký luật dân quyền và xóa bỏ về luật ủng hộ tinh thần đoàn kết ở các tiểu bang miền Nam theo Đảng Dân chủ, các chính trị gia dần dần được chia các phe theo ý thức hệ, và điều này mang lại sự bế tắc không thể tránh khỏi. Cuộc xung đột đó được xây dựng trong hệ thống chính phủ của chúng ta, không phải là do tính cách của các chính trị gia.
Nước Mỹ kết hợp khuôn khổ theo tổng thống chế với cách bỏ phiếu theo đa số, ai thắng cử ngay vòng đầu, nơi mà người thắng cử nắm tất cả quyền lực, thay vì một hệ thống chia quyền theo tỷ lệ. Các nhà khoa học chính trị đã quan sát thấy một cái gì đó gọi là định luật Duverger, trong đó nói rằng việc bỏ phiếu cho ai thắng vòng đầu, theo đa số với một lá phiếu trong một vòng duy nhất, (không phải là một cuộc bầu cử vòng hai) chắc chắn ủng hộ cho hai đảng, trong khi hệ thống bầu hai vỏng hoặc theo hệ thống đại diện theo tỷ lệ ủng hộ cho đa đảng. Đó là lý do tại sao các cử tri bầu cho đảng thứ ba ở Mỹ thường xuyên bị coi là những kẻ phá hoại, thậm chí tôi nghĩ là „mối đe dọa lớn nhất đối với nền dân chủ“, như Jim Messina, người điều hành chiến dịch tranh cử của Barack Obama, gần đây đã nói.
Trong khi chúng ta thấy các nền dân chủ với cả hệ thống tổng thống chế và đại nghị chế, và các nền dân chủ với việc bầu theo cách thắng ngay trong vòng đầu và đại diện theo tỷ lệ, biến thể của Mỹ là cực kỳ khan hiếm. Lee Drutman, một thành viên cao cấp tại New America, đã xem xét 78 nền dân chủ tương đối ổn định trên khắp thế giới và chỉ tìm thấy bốn nền dân chủ có tổng thống và cơ quan lập pháp theo đa số: Hoa Kỳ, Ghana, Liberia và Sierra Leone. Hệ thống của chúng ta không được nhân rộng vì không có hiệu quả.
Các bậc quốc phụ không muốn làm gì nhiều đối với chính quyền tự trị dân chủ, và thay vào đó là chọn các cử tri đoàn cho tổng thống, được lựa chọn theo bất kỳ cách nào mà cơ quan lập pháp tiểu bang thấy là phù hợp, với việc dùng quyền xét đoán độc lập. (Theo quan niệm mguyên thuỷ, tất cả các cử tri đoàn đều không trung thành.)
Mọi thứ đã dần chuyển động theo hướng làm cho các cử tri đoàn ủng hộ cho ý chí của dân chúng về mặt hình thức. Nhưng điều đó tạo ra 51 cuộc bầu cử song song và có tỷ trọng không phù hợp ở các tiểu bang và District of Columbia, nó cho phép cư dân của các tiểu bang nhỏ hơn kiểm soát nhiều hơn đối với người thắng cử nhiệm kỳ tổng thống. Ngày nay, California có số phiếu cử tri đoàn gấp 18 lần Wyoming, nhưng dân số gấp 66,3 lần.
Thực ra, chuyện còn tồi tệ hơn thế. Khi còn trong đại học, tôi đã sống ở Illinois và California trong mổi cuộc bầu cử tổng thống, và lần nào cũng bị tước quyền bầu cử. Về bản chất, người thợ máy ở Alabama hoặc giáo viên ở Nam Carolina cũng đã bị mất phiếu bầu của họ. Tất cả bốn tiểu bang này đã bỏ phiếu cho cùng một đảng trong cuộc chạy đua tổng thống kể từ năm 1992. Năm nay, sự khôn ngoan thông thường cho thấy rằng sẽ có không quá sáu tiểu bang dao động thực sự (cùng với hai khu vực quốc hội dao động ở Nebraska và Maine, hai tiểu bang duy nhất chỉ định một số cử tri đoàn dựa trên phiếu bầu của địa phương). 45 cuộc bầu cử khác đã được cam kết cho ứng cử viên thuộc đảng Dân chủ hoặc Cộng hòa.
Trong các tiểu bang dao động này, bạn có thể xác định chính xác vũ trụ nhỏ bé của các cử tri, những người sẽ chọn người cai trị quyền lực nhất trong thế giới tự do trong bốn năm tới. Các chiến lược gia cho chiến dịch tranh cử đưa ra liên tục con số khoảng 400.000 cử tri trong số 150 triệu người dự kiến sẽ bỏ phiếu trong cuộc bầu cử tiếp theo. Vì vậy, khoảng 99,8 phần trăm của tất cả các cử tri được coi là tương đối không quan trọng. Điều này có hậu quả nghiêm trọng đối với tính chính thống dân chủ, bởi vì các cử tri dao động không phải lúc nào cũng phù hợp với giới cử tri rộng lớn hơn.
Hai trong số sáu cuộc bầu cử vừa qua, tổng thống được bầu không nhận được nhiều phiếu phổ thông nhất. Người đứng thứ hai gần như đã thắng lần thứ ba vào năm 2020 và có thể thắng dễ dàng một lần nữa vào năm 2024.
Trong chín cuộc bầu cử quốc gia vừa qua, Mỹ đã thay đổi ít nhất một viện của Quốc hội hoặc nhiệm kỳ tổng thống mỗi lần ngoại trừ năm 2012.
Các quy tắc lựa chọn Quốc hội cũng phản dân chủ như các quy tắc chọn tổng thống. Tu chính án thứ 17 (1913) ít nhất đã làm cho các nghị sĩ Mỹ được bầu một cách rộng rãi thay vì được các cơ quan lập pháp tiểu bang bầu ra. Nhưng tiểu bang trao số ghế bằng nhau tiếp tục tạo ra một sự nhạo báng cho nền dân chủ. Một loạt các quyết định của Tối cao Pháp viện trong những năm 1960 xác định rằng các địa phương trong cơ quan lập pháp tiểu bang và liên bang cần phải có dân số bằng nhau, tuân theo tiêu chuẩn „một người, một phiếu“ vốn có trong điều khoản bảo vệ bình đẳng của Hiến pháp. Theo tiêu chuẩn này, Thượng viện rõ ràng là vi hiến, mặc dù đã được quy định trong Hiến pháp.
Trong khi đó, cán cân quyền lực của Hạ viện ngày nay ngày càng được quyết định không phải bởi tâm trạng của dân chúng mà bởi các đường lối tùy tiện của địa phương. Chỉ một phần rất nhỏ trong các số ghế tại Hạ viện thậm còn được cạnh tranh, với hầu hết được sắp xếp trước cho đảng Dân chủ hoặc Cộng hòa. Và trong thời đại công nghệ hoạ đồ lớn hơn ngày càng phát triển, việc phân chia lại khu vực tranh cử đã dẫn đến một cuộc đụng độ nghiêm trọng về quyền lực chính trị.
Như David Daley đã sưu tầm chính xác trong cuốn sách Ratf ** ked của mình, 30 triệu đô la tiền đóng góp của doanh nghiệp được tung vào các cuộc đua lập pháp tiểu bang vào năm 2010 đã thay đổi hoàn toàn ai là người có quyền để quy định các ranh giới tranh cử cùa địa phương, và do đó thay đổi kết quả lập pháp của đất nước trong gần một thập niên.
Các trận chiến phân chia lại khu vực tranh cử không còn kết thúc với bản đồ đầu tiên. Vào năm 2024, Maryland, Georgia, Alabama, Bắc Carolina, Nam Carolina, Louisiana và New York có thể sẽ sử dụng các ranh giới khu vực bầu cử quốc hội khác so với năm 2022, do những thay đổi trong định hướng chính trị của các Tối cao Pháp viện tiểu bang, hoặc phán quyết ở cấp liên bang hoặc các cuộc chiến tại tòa án chưa được giải quyết.
Ngoài ra còn có các vụ kiện ở Florida, Utah, Texas, Arkansas, Tennessee, và có thể cả Wisconsin. Đó là hơn một phần tư các tiểu bang của đất nước có tiềm năng làm lại việc phân chia khu vực tranh cử sau khi hoạ đồ đã được thiết lập. Bằng cách nào đó, không có cuộc giao tranh nào trong số này giải quyết được thực tế là có khoảng 678,972 cư dân của Washington, DC, chỉ đơn giản là vì gần một nửa trong số họ là người da đen, họ không được có phiếu bầu cho người đại diện trong Quốc hội.
Hiện tại, tất cả những khiếm khuyết này trong trật tự hiến định khiến cho Washington tạo đường giây cho đảng Cộng hòa, bởi vì đảng này kiểm soát nhiều tiểu bang nhỏ, lãng phí ít phiếu bầu hơn trong các cuộc bầu cử tổng thống và tối đa hóa lợi thế trong việc tái phân chia các địa phận tranh cử. Đảng Dân chủ kiểm soát 11 trong số 12 ghế Thượng viện ở các tiểu bang dao động thực sự, nhưng vẫn cần ba ghế ở Ohio, Montana và West Virginia của đảng Cộng hòa để giữ đa số 51 ghế. Tương tự như vậy, đảng thường cần đa số phiếu phổ thông để đảm nhận chức vụ tổng thống.
Nhưng những thay đổi nhỏ về mặt địa lý hoặc chiến thắng của đảng Dân chủ do thao túng hoạ đồ trong địa phận tranh cử có thể lật ngược kịch bản đó. Texas chuyển sang một bang màu tím hoặc xanh có thể khóa đảng Cộng hòa ra khỏi Nhà Trắng. Vì vậy, không ai thực sự được hưởng lợi từ một hệ thống bầu cử bị biến dạng, ít nhất là của tất cả mọi người.
Ngay cả khi chính phủ của chúng ta được tái thiết kế để cho phù hợp với nguyện vọng ưu tiên của cử tri, chúng ta vẫn sẽ không có nhiều dân chủ ở Mỹ.
Đầu tiên, bạn không thể giả định rằng sở thích của công chúng được phản ánh trong các lá phiếu bầu. Từ khi bắt đầu nền cộng hòa, các phe phái đã giới hạn vũ trụ của cử tri ở những người có xu hướng đồng ý với họ nhất. Người da đen đã không được đến gần với nền dân chủ mà chúng ta tôn kính cho đến khi Đạo luật Quyền Bầu cử năm 1965, và kể từ đó luật này đã bị công kích về mặt pháp lý. John Roberts, Chánh án Tối cao pháp viện tuyên bố chủ thuyết chủng tộc đã chấm dứt, đã cho các tiểu bang cơ hội dẹp bỏ việc đầu phiếu mà không cần Bộ Tư pháp can thiệp trong phán quyết của Shelby County vào năm 2013. Gần đây, một tòa phúc thẩm liên bang đã đi xa hơn khi chấm dứt các thách thức kiện tụng tư nhân theo Đạo luật Quyền bầu cử (Voting Rights Act, VRA).
Sự áp chế cử tri xuất hiện dưới nhiều hình thức đến nỗi người da đen không phải là những người duy nhất bị cuốn vào trong mạng lưới kéo. Năm tiểu bang cấm sử dụng thẻ sinh viên để bỏ phiếu, và một số sinh viên bị ngăn không cho bỏ phiếu ở những địa điểm mà họ theo học đại học. Việc thiếu máy bỏ phiếu ở các khu vực nghèo hơn có thể gây ra việc xấp hàng dài tại các phòng phiếu. Để cho chắc chắn, nhiều tiểu bang đang mở rộng việc tiếp cận phòng phiếu. Nhưng điều đó đang tạo ra sự bất bình đẳng về quyền bầu cử theo tiểu bang, nơi cơ hội của bạn để tham gia vào nền dân chủ của chúng ta bị giới hạn tại nơi cư trú.
Một khi các nhà lập pháp lọt vào được Quốc hội, tình hình được cho là ảm đạm hơn. Các bậc quốc phụ đã thiết kế Thượng viện như một chiếc đĩa làm lạnh cho những đam mê nóng bỏng của Hạ viện lớn hơn và dân chủ hơn. Chiếc đĩa đó đã bị đóng băng bởi thủ tục phát biểu làm cản trở cho việc biểu quyết, một tai nạn của lịch sử khiến cho 41 thượng nghị sĩ đại diện cho một phần nhỏ dân số có thể ngăn chặn tất cả các biện pháp lập pháp. Mặc dù hiếm khi được sử dụng trong lịch sử, chủ yếu để phong toả cơ chế lập pháp về dân quyền, trong những thập niên gần đây, thủ thuật ngăn trở này đã trở thành một trò bắt phiếu cho một thiểu số của Thượng viện nhằm áp đặt ý chí của mình. Thượng nghị sĩ Jeff Merkley (D-OR) viết trong cuốn sách Filibustered!: „Trong số các cơ quan lập pháp trên thế giới, có lẽ chỉ có một mình Thượng viện ngày nay là không có quyền đưa một dự luật về chính sách ra bỏ phiếu với đa số tương đối.”
Các nhà lập pháp sử dụng thủ tục lũng đoạn không còn cần phải nói chuyện để sử dụng quyền phủ quyết của thiểu số; họ chỉ có thể phản đối để phong toả mọi thứ. Ngay cả những cuộc bỏ phiếu tương đối không gây ra tranh cãi cũng có thể mất nhiều ngày, bất kể đến sự ủng hộ, miễn là một thượng nghị sĩ đủ quyết tâm để phản đối nó. Thượng nghị sĩ Tommy Tuberville (R-AL) đã ngăn chặn hàng trăm việc thăng chức trong quân đội một cách chiếu lệ qua nhiều tháng với chính sách phá thai của Lầu Năm Góc; việc xác nhận từng lần thăng thưởng riêng biệt sẽ khiến cho Thượng viện bị tê liệt. Các nhà lập pháp trong thiểu số biết điều này, vì vậy, họ tận dụng mọi cơ hội để kéo dài thời gian.
Bạn có thể viết một cuốn sách với các đề tài mà công luận ủng hộ nhưng Quốc hội không hành động. Quyền phủ quyết của thiểu số là một phần để quy trách, như là việc đại diện bị bóp méo. Nhưng cũng có vấn đề về việc các nhà lập pháp coi ai là thành phần cử tri của họ: những người giàu có và quyền lực.
Văn bản kinh điển về vấn đề này đến từ Martin Gilens và Benjamin Page, hai nhà nghiên cứu đã phát hiện vào năm 2014 rằng nguyện vọng ưu tiên của “giới tinh hoa kinh tế và các nhóm có tổ chức đại diện cho lợi ích doanh nghiệp” quan trọng hơn nhiều đối với kết quả chính sách so với những công dân bình thường hoặc liên minh của các nhóm lợi ích công cộng. Đã có những phản bác về dữ liệu của họ trong nhiều năm, nhưng thực tế đang đứng về phía Gilens và Page. Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, Page nói: “Khi họ nói nền dân chủ có thể thất bại, tôi sẽ không đồng ý. Tôi nghĩ nó chưa được thử nghiệm!”
Từ 71 cho đến 98 % các cuộc bầu cử liên bang Hoa Kỳ trong 20 năm qua được xác định bởi ứng cử viên nào có nhiều tiền vận động tranh cử nhất. Điều này được kích hoạt bởi cơ quan tư pháp mà nó cho phép các tập đoàn được coi như là người dân vì mục đích bảo vệ bình đẳng trước pháp luật, một điều khoản hiến định nhằm bảo vệ quyền của những da đen cựu nô lệ. Sau đó, các tập đoàn đã giành được một cái gì đó như quyền tự do ngôn luận trong vụ kiện Citizens United, một phần của phương cách kéo dài hàng thập niên, như nhà văn Corey Robin đã giải thích, nhằm định hướng lại các hoạt động của “doanh nhân và chủ ngân hàng” dưới dạng phát biểu ngôn luận.
Với những cách giải thích đầy sáng tạo và các học thuyết được phát minh, Tối cao Pháp viện đã tự tái tổ chức thành cơ quan lập pháp thứ hai, đưa ra thêm quyền phủ quyết đối với các luật mà họ không thích. Các chiến lược gia chủ chốt đằng sau trật tự mới này thích sử dụng thuật ngữ “chủ thuyết nguyên thủy”, liên kết tình trạng băng hoại hiện nay của nền dân chủ với những cấu trúc bất toàn trong quá khứ.
Mỗi một hành động mà chính phủ thực hiện giờ đây đều được xem qua lăng kính củ các vi phạm tiềm ẩn đối với quyền của doanh nghiệp, nghiền nát ý chí của các nhà hoạch định chính sách, những người điều tiết và thực thi với mục đích là không bị kiện cáo. Và các tập đoàn cũng có mặt bên trong nơi nào có việc gì xảy ra. Chỉ trong ba tháng đầu năm 2023 việc vận động hành lang chính phủ tiêu tốn hơn 1 tỷ đô la. Khi Đạo luật Dodd-Frank được thông qua, với cơn gió thuận chiều của cuộc khủng hoảng tài chính mang tính lịch sử thế giới tạo điều kiện cho một cuộc cải cách thầm lặng để hầu như không giành được đủ số phiếu bầu, mà các nhà vận động hành lang từ ngành dịch vụ tài chính đã gọi đó là “giờ nghỉ giải lao” và chuẩn bị định hình các quy tắc bắt nguồn từ luật vì lợi ích của họ, hầu hết đều thành công.
Chắc chắn đã có những thời điểm trong lịch sử nước Mỹ khi việc tập trung quyền lực kinh tế được coi là nguy hiểm. Hiện tại chúng ta đang sống trong sự hồi sinh của một trong những khoảnh khắc đó. Nhưng từ bỏ việc thực thi luật chống độc quyền hơn nửa thế kỷ trước đã mang lại cho các đại tập đoàn quá nhiều quyền lực chính trị trong nền dân chủ của chúng ta. Quả thực, chính hành động tập trung các lĩnh vực kinh doanh sẽ dẫn đến việc đánh mất các quyền cơ bản, bất khả xâm phạm: quyền tự do theo đuổi tài năng của mình hoặc khám phá những phát minh mới mà không bị áp lực bởi một quái vật khổng lồ về kinh tế.
Khi thành công trong nền chính trị Mỹ phụ thuộc hoàn toàn vào sự giàu có và ảnh hưởng, liệu từ “dân chủ” có thực sự được sử dụng không?
Chính phủ tê liệt của chúng ta dẫn đến một cách tự nhiên những người tham gia chính trị tìm kiếm các giải pháp để giải quyết công việc. Ví dụ, tiến trình thoả hiệp về ngân sách, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các quyết định về kinh phí, đã được biến thành “thoát khỏi tình trạng tự do gây lũng đoạn”, cho phép đa số nắm quyền thông qua các dự luật theo đường lối của đảng. Các dự luật về hòa giải phải có tác động đến ngân sách, đưa toàn bộ các ý tưởng về chính sách vào một phạm trù lập pháp không thể vượt qua hơn.
Nhiều người sẽ quy kết tôi là có tội trong lối tư duy về “thiếu thành thật trong việc giải quyết vấn đề dân chủ”. Vào năm 2019, chúng tôi đã giới thiệu trên các trang này Chương trình nghị sự Một Ngày, một loạt các lựa chọn sử dụng hoạt động của hành pháp để thực thi các luật lệ hiện hành theo những cách có thể giải quyết các vấn đề cấp bách trong nước. Tôi chắc chắn phải đối mặt với rất nhiều thất vọng về tình trạng bế tắc trong chính sách và việc Quốc hội từ bỏ quyền lập pháp. Và tôi thấy vai trò hiến định của ngành hành pháp là “bảo đảm cho luật pháp được thực thi một cách trung thực” như khi hoàn toàn nhất quán với việc đảm bảo rằng những luật lệ hiện hành được thực hiện với ảnh hưởng tối đa.
Tuy nhiên, tôi nhận ra rằng ranh giới giữa cách giải thích luật pháp đầy sáng tạo vì lợi ích công cộng và các biện pháp nhằm chiếm đoạt một cách đơn giản quyền lực vào trong tay cơ quan hành pháp thường có thể rất mỏng manh. Tháng 12 năm ngoái, vào thời điểm mà Joe Biden giới thiệu chiến dịch tái tranh cử như một cuộc chiến để bảo vệ nền dân chủ, Bộ Ngoại giao đã hai lần ngăn cản các nhà lập pháp khỏi trách nhiệm theo luật định của họ để duyệt xét các thương vụ quân sự. Cả hai trường hợp đều liên quan đến các chuyến hàng đến Israel và việc điều hành các trường hợp ngoại lệ khẩn cấp trong Đạo luật kiểm soát xuất khẩu vũ khí. Nhưng những điều này rõ ràng được sử dụng để trốn tránh sự giám sát pháp lý nhằm ngăn cản Hoa Kỳ cung cấp vũ khí cho các quốc gia vi phạm luật quốc tế và nhân quyền.
Lệnh kích hoạt về trường hợp khẩn cấp được chính quyền Trump sử dụng lần cuối ở Trung Đông vào năm 2019, để bàn giao vũ khí cho Ả Rập Saudi cho cuộc chiến ủy nhiệm của nước này ở Yemen, cũng như ở Gaza đã dẫn đến các vụ thương vong dân sự không kể xiết. Không có tổng thống nào được độc quyền mở rộng quyền hành pháp; bạn có thể quay lại việc Lincoln, người đã đình chỉ quyền được pháp luật bảo vệ hoặc F.D. Roosevelt, người đã bắt giữ các công dân Mỹ gốc Nhật hoặc các tổng thống kế nhiệm gây chiến ở Việt Nam mà không có tuyên bố của quốc hội, để tìm ra một số hành vi vi hiến thực sự. Quyền lực chiến tranh thường xuyên bị vi phạm, các đạo luật thường xuyên bị bỏ qua hoặc bị bóp méo, và việc thực thi hiếm khi đi theo đường thẳng mà mục đích lập pháp có thể quy định.
Nhưng bạn không thể chỉ đổ lỗi cho từng cá nhân đã vén tấm thảm lên để tìm cánh cửa thoát hiểm ra khỏi căn phòng là nền dân chủ Mỹ. Nếu chính phủ của chúng ta tạo ý nghĩa gì đó, thì bạn sẽ không cần phải hoà giải về ngân sách để chỉ tổ chức bỏ phiếu theo đa số. Tôi chắc chắn sẽ không kêu gọi về hành động cho hành pháp nhiều như vậy nếu đó thực tế không phải là cách duy nhất để có được một nhiệm kỳ tổng thống thành công trong thời hiện đại.
Chính phủ sử dụng phương tiện áp lực chuyên chế không phải là một giải pháp bền vững cho căn bệnh của chúng ta. Trước hết, nó cho phép việc mở rộng quyền lực đang leo thang, để sử dụng lập luận cơ bản khá phổ biến là “họ đã bắt đầu”. Mark Tushnet của Đại học Luật Harvard gọi đó là sự cứng rắn hiến định, nó dẫn đến sự phá vỡ thường xuyên về các chuẩn mực và quy ước, đặc biệt khi kết hợp với tình trạng phân hoá chính trị hiện đại.
Chúng ta đang thấy điều này diễn ra trong thời gian đích thực. Thực ra, Donald Trump đã mô tả Joe Biden và các đồng minh của ông ta là “mối đe dọa thực sự đối với nền dân chủ” vì đã cố gắng quy trách cho ông ta. Phản ứng bảo thủ đối với dự án tư pháp nhằm loại bỏ Trump ra khỏi cuộc đầu phiếu, chiếu theo Tu chính án thứ 14 trong việc loại bỏ tư cách đối với những công dân “đã tham gia nổi dậy hoặc nổi loạn” chống lại Hoa Kỳ, là nó có nguy cơ phá vỡ nền dân chủ. Trong khi đó, hàng loạt cáo trạng hình sự mà Trump phải đối mặt trong lúc này đã khiến ông ta phải tuyên bố sẽ bổ nhiệm một công tố viên đặc biệt để “truy lùng” Biden và những người khác nếu ông tái nhậm chức.
Không có gì mới lạ về việc Trump hoặc các đồng minh của ông quay lại tấn công những người tố cáo họ. Trump đang mô tả cho các cử tri của mình một nền chính trị là hoàn toàn phục vụ cho quyền lợi bản thân, trong đó các quy tắc là quan trọng nếu chúng mang lại lợi ích cho ông và không quan trọng nếu chúng không mang lại lợi ích cho ông. Vấn đề là ngay cả những cách giải quyết né tránh hiến định hợp pháp cũng thường có thể giống với cách vạn sự rồi cũng qua trên thế giới mà Trump muốn làm như vậy, để nhằm biện minh cho hành vi không tự do của chính mình. Nó có thể dẫn đến sự nhầm lẫn của công chúng hoặc thậm chí là tức giận. Nguyên tắc dân chủ nào mà một vị tổng thống sẵn sàng phá bỏ? Tại sao sử dụng vũ khí lại tăng tốc để giết hại dân thường ở Gaza lại đáng bị cắt giảm theo luật định, nhưng lại không đảm bảo rằng tất cả người Mỹ đều được một hệ thống y tế có chất lượng và với giá cả phải chăng?
Việc quan sát rằng luật pháp chỉ áp dụng trong một số thời điểm đã gây ra tình trạng đạo đức giả và cảm tưởng xa lánh. Người Mỹ không còn tin nữa rằng làm việc cực nhọc và xử sự công bằng sẽ giúp con người phát triển thịnh vượng. Tình trạng bất lực mà người ta nhận ra được củng cố bởi một hệ thống chính trị mà kết quả không liên quan gì đến mong muốn của đa số. Mỹ đã tụt hậu so với các quốc gia ngang hàng về một loạt các thước đo kinh tế vì chính phủ nước này không được trang bị để theo kịp. Và khi công chúng cảm thấy liên tục bị chính phủ của họ phớt lờ, họ mất niềm tin và tìm câu trả lời ở những kẻ mị dân với những câu trả lời đơn giản và những vật tế thần quen thuộc, những người như … Donald Trump.
Đúng là ngay cả các nền dân chủ phương Tây với cơ cấu chính phủ ưu việt cũng đang phải gánh chịu những khủng hoảng về tính chính thống, tinh thần dân tộc đang trỗi dậy và sự trỗi dậy của những người theo trào lưu dân túy cánh hữu. Chủ nghĩa siêu tư bản toàn cầu và sự thích ứng tân tự do chắc chắn đóng một vai trò nào đó ở đây. Nhưng nước Mỹ đã phủ bóng đen dài, và việc chuyển giao chính sách cho các đại doanh nghiệp là một chức năng làm tự tay để trói buộc chính phủ chúng ta. Một số người có thể phản đối việc đặt các tài liệu lập quốc vào trung tâm trong các vấn đề của chúng ta. Nhưng tôi không nghĩ điều đó có thể tránh được, dựa trên bằng chứng.
Một kết quả thăm dò đáng chú ý vào tháng 12 vừa qua cho thấy là đa số đảng viên Đảng Cộng hòa và Dân chủ tin rằng nền dân chủ đang bị đe dọa trong cuộc bầu cử năm 2024, vì những lý do hoàn toàn khác nhau. Trump thực sự dẫn đầu trong một số cuộc thăm dò về các biện pháp như “bảo vệ Hiến pháp”. Tôi cho rằng việc cố gắng vượt qua những trở ngại khác nhau mà các bậc quốc phụ đặt ra trông quá giống việc lật đổ nền dân chủ để những người thiếu quan tâm có thể nhận ra sự khác biệt. Và việc bất lực thường xuyên vì không thể vượt qua những trở ngại đó có nghĩa là mối đe dọa chính đối với nền dân chủ chính là Hiến pháp.
Việc bất lực của các vị tổng thống và các đảng phái trong việc ban hành chương trình nền tảng của mình khi họ thắng cử là nguyên nhân chính gây ra rất nhiều thất vọng trong hệ thống chính trị. Mối ràng buộc mà chúng ta đang gặp phải là loại cải cách mà chúng ta cần, để mọi người có thể tin rằng việc tham gia chính trị có ý nghĩa gì đó, không phải tương ưng theo bản Hiến pháp mà nó ngăn cản người dân. Như các giáo sư luật Ryan Doerfler và Samuel Moyn đã mô tả, một nền chính trị yêu cầu một luật cao hơn không phù hợp để giải quyết các tranh chấp “chắc chắn sẽ hướng chúng ta về quá khứ và định hướng sai lạc trong hiện tại thành một cuộc tranh chấp về những gì mọi người đã có lần đồng ý trước đây, không phải là về nhu cầu trong hiện tại và tương lai cho những người mà họ đang sống hiện tại.”
Tôi thích một hệ thống đại nghị hơn, trong đó tổng thống bị giáng chức xuống vai trò bộ trưởng. Hạ viện với đại diện bầu theo tỷ lệ tương đối mà nó trao một phần quyền đại diện ở một địa phương hoặc tiểu bang chuyên biệt cho các ứng cử viên, mà họ đạt được một tỷ lệ phiếu bầu nhất định, kết quả này sẽ gây cảm hứng cho các đảng cạnh tranh trên cơ sở tạo thu hút nơi cử tri thay vì hạ thấp đối thủ như một sự lãng phí phiếu bầu. Nó cũng sẽ làm cho việc tạo thao túng trong các phạm vi tranh cử trở nên không ảnh hưởng. Giải pháp hàng đầu của tôi cho Thượng viện là không có một Thượng viện; lựa chọn tốt thứ hai sẽ biến nó thành một cơ quan giống như Viện Qúy tộc, không có quyền phủ quyết luật, chỉ tu chỉnh khi Hạ viện chấp thuận.
Việc thiết lập cơ chế này phục vụ hữu hiệu cho phần lớn các nơi khác trong thế giới công nghiệp hóa, nó sẽ cho phép nhiều đảng tranh quyền, hình thành các liên minh cai trị và biến nước Mỹ thành một nền dân chủ hoạt động. Hầu hết của các việc này không phù hợp với sách giáp khoa về luật hiện nay, trong đó quyền lực của tổng thống và Thượng viện là rõ ràng và không bị bẻ cong. Tư cách thành viên của Thượng viện, chiếu theo Hiến pháp, cũng phải bình đẳng tùy theo tiểu bang. Và bằng sự sáng suốt của mình, các bậc quốc phụ đã khiến cho sự sáng tạo của họ gần như không thể tu chỉnh được. (Hạ thấp rào cản đó phần nào có thể là cuộc cải cách dân chủ nhất trong số đó.)
Thật là thu hút khi nói rằng chúng ta cần một đại hội về hiến pháp để tu chỉnh hoàn toàn trật tự cai trị của quốc gia. Nhưng đó là một kịch bản khó khăn. Cùng trong lúc này, chúng ta cũng có thể hướng tới nền dân chủ tốt hơn mà chúng ta cần bằng cách thử thay đổi cho nền dân chủ.
Việc bãi bỏ Cử tri đoàn được công chúng ủng hộ với tỷ số 2-1, đó là một kết quả dễ dàng đạt được. Các biện pháp về cuộc bầu cử phổ thông trong toàn quốc sẽ cho phép các tiểu bang, cũng như quyền hiến định của họ, liên kết với nhau và chuyển phiếu cử tri đoàn của họ cho người thắng phiếu phổ thông. Các tiểu bang có 205 phiếu cử tri đoàn đã ký điều này thành luật; 65 phiếu cử tri đoàn cuối cùng sẽ khó tìm nhưng không phải là không thể vượt qua.
Một cuộc bầu cử tổng thống theo phổ thông đầu phiếu sẽ tạo ra sức thu hút rộng rãi hơn và tạo ra yêu cầu giữa các đảng, buộc họ phải mở rộng thay vì hạn chế quyền bầu cử. (Việc thực thi Mục 2 của Tu chính án thứ 14, như đã viết, có thể tước bỏ các đại diện và phiếu cử tri đoàn ở các tiểu bang mà nó tước quyền bầu cử của cử tri, cũng sẽ thay đổi chiều hướng các động cơ.) Có lẽ quan trọng hơn, nó sẽ báo hiệu rằng người dân có quyền vứt bỏ sự ràng buộc nghiêm nhặt hiến định.
Nếu chúng ta không kết thúc Thượng viện, chúng ta có thể vứt việc thao túng vấn đề kéo dài tranh luận vào thùng rác lịch sử, để đa số thượng nghị sĩ có thể thông qua đạo luật mà họ ủng hộ. Thượng viện cũng có thể tổ chức trở nên dân chủ hơn bằng cách mở rộng quyền đại diện cho những cử tri, nhũng người mà hiện nay hoàn toàn không có quyền tham gia, như cử tri ở Washington, D.C., Puerto Rico và các vùng lãnh thổ khác, để ít nhất mang lại cho công dân Mỹ quyền đại diện bất bình đẳng mà họ xứng đáng được hưởng.
Tăng số lượng thành viên của Hạ viện để cho một đại biểu không phát biểu cho một khu vực bầu cử lớn như vậy là một lựa chọn. Quốc hội có quyền ấn định số lượng thành viên Hạ viện, nhưng Hạ viện có 435 thành viên không thay đổi kể từ năm 1913; vào thời điểm đó, cứ mỗi đại biểu Hạ viện có hơn 200.000 cử tri bầu cho họ, và ngày nay con số đó là 761.169. Điều này cũng có thể làm giảm ảnh hưởng của việc sắp xếp lại phạm vi tranh cử, vì các địa phương nhỏ hơn có ít cơ hội để bóp méo hơn. Quốc hội cũng có thể yêu cầu các ủy ban độc lập về việc tái phân chia khu vực để ngăn chặn việc thao túng liên tục này.
Nhưng Quốc hội cũng có thể thông qua việc đại diện theo tỷ lệ tại Hạ viện, thông qua Điều I, Mục 4, quyền quyết định theo Hiến pháp về “thời gian, địa điểm và cách thức” của các cuộc bầu cử cho chính Quốc hội. Nó có thể tạo ra các khu vực có nhiều thành viên và ngưỡng tối thiểu để có đại diện. Thậm chí một Quốc hội tác động bằng cách có thể bỏ phiếu để thay đổi cơ cấu nội bộ của mình, khiến Thượng viện trở thành một cơ quan cố vấn nhiều hơn và đưa Hạ viện được bầu theo tỷ lệ lên hàng đầu.
Nếu Tối cao Pháp viện, với vai trò tự bổ nhiệm mình như là nhà siêu lập pháp, quyết định là những thay đổi này loại bỏ nền dân chủ của chúng ta không còn đặc tính trước đây của nó và do đó phải bị vô hiệu hóa, việc gì sẽ xảy ra ? Nhiều cải cách của Tòa án đã được thảo luận, từ giới hạn nhiệm kỳ 18 năm cho phép các vị tổng thống đề cử thẩm phán cứ mỗi hai năm một lần, đến việc mở rộng số lượng thành viên của Tòa án. Nhưng Quốc hội không cần phải để Tòa án có tiếng nói trong vấn đề này. Trao quyền cho cơ quan tư pháp để xem xét các quyết định về chính sách cho phù hợp với các nền dân chủ khác bằng cách tước bỏ quyền tài phán và khôi phục các đặc quyền của quốc hội là một lựa chọn mà ngành lập pháp đang ngày càng sử dụng và nó có thể tái quân bình các ngành ngang bằng nhau và đảo ngược việc giành quyền của ngành tư pháp.
Chúng ta có thể và nên làm cho việc bỏ phiếu trở nên dễ dàng hơn thông qua việc đăng ký cử tri tự động, mở rộng việc bỏ phiếu sớm và qua thư, và bỏ phiếu phổ quát mà nó yêu cầu mọi công dân phải bỏ phiếu. Nhưng một chương trình nghị sự về dân chủ mang tính chuyển đổi cũng sẽ cho phép tham gia chính trị ngoài ngày bầu cử. Việc có những người đại biểu gần gũi hơn với người dân và có khả năng thực sự làm việc sẽ giúp cho công chúng có cơ hội lớn hơn trong việc được giới lãnh đạo lắng nghe nhiều hơn.
Không có điều nào trong số các vấn đề này sẽ dễ dàng. Những điểm khó khăn giống nhau trong việc phủ quyết khiến người dân xa lánh nền dân chủ, nó sẽ tạo ra những trở ngại to lớn cho việc cải tổ. Nhưng như Perry Bacon Jr. đã viết trên The Washington Post, việc nêu cụ thể về nền dân chủ thực sự mà chúng ta mong muốn, thay vì một ý tưởng trừu tượng không phù hợp với thực tế của nước Mỹ, nó sẽ trung thực hơn và có nhiều khả năng truyền cảm hứng ủng hộ hơn. Các cử tri năm 2022 và 2023 đã phản ứng với việc thu hồi các quyền cụ thể, chẳng hạn như quyền phá thai. Họ không được truyền cảm hứng từ một chương trình nghị sự tổng quát về quyền. Cách cứu lấy nền dân chủ là hứa trao cho người dân một nền dân chủ trong tương lai.
Chúng ta biết rằng có thể đề ra một chương trình nghị sự giống như vậy, bởi vì nó đã được thực hiện. Vào tháng 12 năm 2012, Công nhân nghành Truyền thông Hoa Kỳ (Communications Workers of America, CWA), Greenpeace, Câu lạc bộ Sierra và Hiệp hội quốc gia về thăng tiến cho người da màu (The National Association for the Advancement of Colored People, NAACP) đã phát động Sáng kiến cho Dân chủ, một kế hoạch thách thức “các phong toả dân chủ” vốn cản trở các cải cách của dân chúng. Điều này đã phù hợp vì nó xuất phát từ phong trào của giới lao động. Sau chiến thắng quyết định của Đảng Dân chủ trong cuộc bầu cử năm 2008, các công đoàn đã giành được đa số phiếu trong Quốc hội ủng hộ cải cách luật lao động của Hoa Kỳ, nhưng không thể thông qua Thượng viện với đa số phiếu. Rào cản này là nguyên nhân chính khiến việc công đoàn hoá trong khu vực tư nhân giảm từ 35% xuống còn 6% kể từ những năm 1950.
Liên minh nhấn mạnh ba lĩnh vực chính cho cải cách: thay đổi các quy tắc của Thượng viện để loại bỏ tình trạng thay đổi thủ tục phát biểu, hạn chế chuyện tiền bạc trong chính trị và tăng cường quyền bầu cử. Họ thực sự đã ghi được một phần thắng lợi. Thượng viện đã thay đổi các quy định vào năm 2013 để cho phép bầu phiếu đa số đối với các ứng viên ngành hành pháp và tư pháp. Sự tham gia của cử tri đã dần dần tăng lên ở một số địa phương, một phần là do các quy tắc mới thời đại dịch nhằm tối đa hóa sự tham gia mà các tiểu bang như Michigan vẫn giữ nguyên.
Larry Cohen, cựu chủ tịch của CWA, đã sử dụng vị thế cao của mình là thành viên Ủy ban Quốc gia Đảng Dân chủ để cấm các siêu đại biểu, những người điều hành đảng được bỏ phiếu cá nhân trong các cuộc đua đề cử tổng thống. Nhưng lệnh cấm đó chỉ kéo dài đến năm 2020 và sẽ phải được xét lại tại đại hội năm 2024. Cohen cũng tin rằng đảng Dân chủ có thể cấm dùng tiền đen tối trong các cuộc bầu cử sơ bộ mà nó được các đảng tổ chức một cách riêng tư và có thể tiến hành theo các quy định của đảng. (Ngay cả nỗ lực để thảo luận vấn đề này tại Đại hội Đảng, DNC, năm ngoái đã bị dập tắt.)
Cohen cho rằng phong trào cải cách cần được xây dựng, vì người dân đang mất niềm tin. Cohen nói với tôi: “Đó là điều mà cựu Thượng nghị sĩ Tom Harkin đã nói rất hay. Ông ấy thường lập lại: ‘Trong đất nước này, mọi người đều đạo đức giả, vì chúng ta không có nền dân chủ.”
Sự thật là một số ít công đoàn và tổ chức dựa trên thành viên không đủ sức mạnh để thực hiện dự án chuyển đổi cơ bản phi thường hơn. Nó cần phải đến từ một nguyên thủ quốc gia, một sản phẩm của nền dân chủ mà chúng ta có người đưa ra các bước để cải thiện nó.
Bài diễn văn đầu tiên của Joe Biden trong chiến dịch tái tranh cử được đọc cách khoảng 15 dặm từ Valley Forge, Pennsylvania, nơi Quân đội lục địa trú đóng suốt mùa đông dài năm 1777 để tập hợp lại trong trận chiến với quân Anh. Ông trình bày một cách hùng hồn khinh miệt đối thủ đối với các nguyên tắc cơ bản của nền dân chủ: việc không tôn trọng kết quả bầu cử hoặc tôn trọng Hiến pháp, đe dọa bằng bạo lực để chống lại các đối thủ chính trị, lời thề sử dụng chức vụ chính trị làm nền tảng để trả thù.
“Hôm nay, tôi đưa ra cam kết thiêng liêng này với các bạn: việc phòng thủ, bảo vệ và gìn giữ nền dân chủ Mỹ sẽ vẫn duy trì là mục tiêu chủ yếu trong nhiệm kỳ tổng thống của tôi,” Biden nói với cử toạ.
Điều này giả định rằng nền dân chủ Mỹ đang tiến triển tốt đẹp cho đến khi Trump bước xuống chiếc thang cuốn mạ vàng ở Tháp Trump vào năm 2015. Điều không thể xảy ra là đối với một người có 50 năm kinh nghiệm trong hệ thống thừa nhận rằng nền dân chủ luôn bị đe dọa ở đất nước này. Nhưng việc không nói ra sự thật đó đã giúp mang chúng ta đến tình trạng này. Thực vậy, nếu bảo vệ nền dân chủ Mỹ là lý do chính của Biden, thì ông không nên ngần ngại gì để chỉ ra những khiếm khuyết của nó.
***
Tác giả David Dayen là biên tập viên điều hành của Prospect. Các bài viết đã đăng trên The Intercept, The New Republic, HuffPost, The Washington Post, Los Angeles Times, v.v. Sách mới nhất của ông là Monopolized: Life in the Age of Corporate Power, do NXB The New Press ấn hành năm 2020.
Bài liên quan: Nền dân chủ Mỹ – Alexis de Tocqueville, Đằng sau „cuộc khủng hoảng dân chủ“ là gì?, Cái gì đang phá vở nền dân chủ?, Ngày 6/1 tại Quốc hội là một vết nhơ cho nền dân chủ Hoa Kỳ*, Mỹ: một đất nước thất bại