Foreign Affairs
13 tháng Mười năm 2023
Henry A. Kissinger và Graham Allison
Đỗ Kim Thêm dịch

Năm nay đánh dấu kỷ niệm 78 năm việc kết thúc một cuộc chiến đẫm máu nhất trong lịch sử và khởi đầu cho một thời kỳ hiện đại dài nhất không có chiến tranh giữa các cường quốc. Chỉ hai thập niên sau Thế chiến thứ Nhất, Thế chiến thứ Hai đã tiếp nối, bóng ma của Thế chiến thứ Ba lơ lững Chiến tranh Lạnh trong nhiều thập niên kế tiếp. Về lý thuyết, với các vũ khí sử dụng, nó sẽ hủy diệt đến mức có thể đe dọa cho toàn nhân loại. Khi bom nguyên tử của Hoa Kỳ tàn phá Hiroshima và Nagasaki, buộc Nhật Bản phải đầu hàng vô điều kiện ngay lập tức, không ai nghĩ rằng thế giới sẽ chứng kiến một lệnh cấm sử dụng vũ khí hạt nhân qua thực tế trong bảy thập niên tiếp theo. Dường như là không có gì chắc chắn rằng gần tám thập niên sau, chỉ có chín quốc gia là có vũ khí hạt nhân. Qua nhiều thập niên này, Hoa Kỳ đã chứng minh việc tránh chiến tranh hạt nhân, làm chậm sự phổ biến vũ khí hạt nhân và định hình một trật tự quốc tế, giới lãnh đạo đã mang lại cho các đại cường những thập niên hòa bình, nó đi vào lịch sử như là một trong những thành tựu quan trọng nhất của Mỹ.
Ngày nay, khi thế giới đối phó với những thách thức độc nhất được đặt ra bởi một nền công nghệ chưa từng có và theo một cách nào đó, thậm chí nó còn đáng sợ hơn, đó là thông minh nhân tạo, không có gì đáng ngạc nhiên khi nhiều người đang tìm các bài học trong lịch sử. Liệu những máy móc với khả năng siêu phàm này sẽ đe dọa nhân loại trong vị thế như là gia chủ của vũ trụ? Liệu thông minh nhân tạo sẽ làm suy yếu tình trạng độc quyền của các quốc gia qua các phương tiện bằng bạo lực toàn diện? Liệu thông minh nhân tạo đem lại cho các cá nhân hoặc nhóm nhỏ sản xuất các vi rút có khả năng tiêu diệt theo một quy mô mà trước đây là dành cho các cường quốc? Liệu thông minh nhân tạo có thể xói mòn các răn đe hạt nhân vốn là trụ cột của trật tự thế giới ngày nay?
Tại thời điểm này, không ai có thể trả lời những câu hỏi này đầy lòng tự tin. Nhưng khi chúng tôi đã khám phá những vấn đề này trong hai năm qua với một nhóm các nhà lãnh đạo công nghệ đi đầu trong cuộc cách mạng về thông minh nhân tạo, chúng tôi kết luận rằng các triển vọng về sự tiến bộ vô giới hạn của thông minh nhân tạo sẽ gây các hậu quả thảm khốc cho Hoa Kỳ và thế giới đến nỗi phải buộc các nhà lãnh đạo của các chính phủ phải hành động ngay. Mặc dù cả họ và bất kỳ ai khác cũng đều không thể biết tương lai sẽ ra sao, nhưng hiểu việc bắt đầu đưa ra những lựa chọn khó khăn và hành động trong hiện tại là đủ, họ nhận ra rằng những điều này sẽ được duyệt xét nhiều lần hơn là như khi được phát hiện.
Khi giới lãnh đạo đưa ra những lựa chọn này, những bài học mà họ rút ra được từ trong kỷ nguyên hạt nhân có thể mang đến nhiều thông tin cho việc quyết định. Ngay cả các đối thủ chạy đua để phát triển và phối trí một nền công nghệ chưa từng có mà nó có thể giết chết hàng trăm triệu người, dù sao họ cũng phát hiện ra những điểm có lợi ích chung. Là những người theo chủ thuyết độc quyền tay đôi, cả Hoa Kỳ và Liên Xô đều quan tâm đến việc ngăn chặn sự lan truyền nhanh chóng của nền công nghệ này sang các quốc gia khác mà nó có thể đe dọa đến họ. Cả Washington và Moscow đều nhận ra rằng nếu công nghệ hạt nhân rơi vào tay các tác nhân bất hảo hoặc những kẻ khủng bố ngay trong biên giới của họ, nó có thể được sử dụng để đe dọa họ, và vì vậy mỗi bên phát triển các hệ thống an ninh mạnh mẽ cho kho vũ khí của riêng mình. Nhưng vì mỗi bên cũng có thể bị đe dọa nếu các tác nhân bất hảo trong xã hội của đối phương có được vũ khí hạt nhân, cả hai đều thấy có lợi ích khi thảo luận với nhau về rủi ro này và mô tả các thực hành và công nghệ mà họ đã phát triển để đảm bảo cho việc này không xảy ra. Một khi kho vũ khí hạt nhân của hai bên đạt đến mức độ mà không phe nào có thể tấn công đối phương và không gây ra việc trả đủa có hại cho mình, họ đã phát hiện ra tình trạng ổn định đầy nghịch lý, sự hủy diệt lẫn nhau là đoan chắc (mutual assured destruction, MAD). Khi thực tế đen tối này được nhập tâm, mỗi cường quốc đã học cách tự chế và tìm cách thuyết phục đối thủ hạn chế các sáng kiến để tránh đối đầu mà nó có thể dẫn đến chiến tranh. Thật vậy, các nhà lãnh đạo của cả chính phủ Hoa Kỳ và Liên Xô nhận ra rằng, trách nhiệm chính là việc tránh một cuộc chiến tranh hạt nhân, vì quốc gia của họ sẽ là nạn nhân đầu tiên.
Ngày nay, những thách thức do thông minh nhân tạo mang lại không chỉ đơn giản là chương thứ hai của thời đại hạt nhân. Lịch sử không phải là một cuốn sách dạy nấu bếp với các thực đơn gia chánh mà người ta có thể làm theo để chế biến món ăn. Ít nhất, giữa thông minh nhân tạo và vũ khí hạt nhân có sự khác biệt quan trọng cũng như những điểm tương đồng. Tuy nhiên, những bài học trong việc định hình cho một trật tự quốc tế mà không gây ra chiến tranh giữa các cường quốc trong gần tám thập niên qua, nếu hiểu được nó một cách đúng đắn và áp dụng, nó sẽ chỉ dẫn một cách tốt nhất cho các nhà lãnh đạo ngày nay sử dụng khi phải đối đầu với thông minh nhân tạo.
Tại thời điểm này, hai siêu cường có thông minh nhân tạo là Hoa Kỳ và Trung Quốc, cả hai là những quốc gia duy nhất có nhân tài, viện nghiên cứu và năng lực tính toán toàn diện cần thiết để tạo ra các mô hình tinh vi nhất về thông minh nhân tạo. Điều này đem đến cho họ một cơ hội hiếm hoi nhằm hướng dẫn cách để ngăn chặn những tiến bộ và ứng dụng nguy hiểm nhất của thông minh nhân tạo. Tổng thống Mỹ Joe Biden và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nên nắm bắt cơ hội này bằng cách tổ chức một hội nghị thượng đỉnh, có lẽ ngay sau cuộc họp của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương tại San Francisco vào tháng 11, nơi mà họ có thể tổ chức các cuộc thảo luận mở rộng, đối mặt trực tiếp về những gì mà họ nên coi là một trong những vấn đề gây hậu quả nhất phải đối phó hiện nay.
Các bài học từ thời đại hạt nhân
Sau khi bom nguyên tử tàn phá các thành phố Nhật Bản vào năm 1945, các nhà khoa học mở hộp bí mật về nguyên tử, họ nhìn thấy những gì họ tạo ra và giật mình trong nỗi kinh hoàng. Robert Oppenheimer, nhà khoa học chính của dự án Manhattan, nhớ lại lời từ trong kinh Bhagavad Gita: „Bây giờ tôi trở thành tử thần, kẻ hủy diệt thế giới.“ Oppenheimer trở thành một người ủng hộ nhiệt tình cho các biện pháp triệt để để kiểm soát bom đến nỗi ông đã bị tước quyền miễn trừ về kiểm soát an ninh. Bản Tuyên ngôn Russell-Einstein, được ký vào năm 1955 bởi 11 nhà khoa học hàng đầu bao gồm không chỉ Bertrand Russell và Albert Einstein mà còn cả Linus Pauling và Max Born, họ cảnh báo về sức mạnh đáng sợ của vũ khí hạt nhân và chân thành thỉnh cầu các nhà lãnh đạo thế giới không bao giờ sử dụng chúng.
Mặc dù Tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman không bao giờ bày tỏ các suy nghĩ về quyết định của mình một lần nửa, cả ông và các thành viên trong nhóm an ninh quốc gia của ông đều không có cái nhìn về cách mà công nghệ tuyệt vời này có thể được kết hợp trong trật tự quốc tế hậu chiến. Liệu Hoa Kỳ có nên cố gắng duy trì vị trí độc quyền của mình như là cường quốc nguyên tử duy nhất không? Điều đó thậm chí có khả thi không? Để theo đuổi mục tiêu này, liệu Mỹ có thể chia sẻ công nghệ của mình với Liên Xô không? Có phải sự tồn tại trong một thế giới với vũ khí này đòi hỏi các nhà lãnh đạo phải tạo ra một số cơ quan quyền lực tối thượng so với các chính phủ quốc gia? Henry Stimson, Bộ trưởng Chiến tranh của Truman (người giúp đạt được chiến thắng qua cả Đức và Nhật Bản), đề xuất rằng, Hoa Kỳ chia sẻ độc quyền về bom nguyên tử với nhà lãnh đạo Liên Xô Joseph Stalin và Thủ tướng Anh Winston Churchill để các cường quốc tạo ra một „cơ quan kiểm soát phối hợp” để có thể ngăn chặn sự lan rộng của vũ khí hạt nhân. Truman lập ra một ủy ban, do Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Dean Acheson làm chủ tịch, để phát triển một chiến lược nhằm theo đuổi đề xuất của Stimson.
Acheson đồng ý với Stimson về cơ bản: cách duy nhất để ngăn chặn cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân nhằm kết thúc chiến tranh thảm khốc là tạo ra một cơ quan quốc tế, nó sẽ là người chủ sở hữu duy nhất các vũ khí nguyên tử. Điều này sẽ đòi hỏi Hoa Kỳ phải chia sẻ bí mật của mình về hạt nhân với Liên Xô và các thành viên khác của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, chuyển giao vũ khí hạt nhân của mình cho một „cơ quan mới của Liên Hiệp Quốc về phát triển nguyên tử“ và cấm tất cả các quốc gia phát triển vũ khí hoặc xây dựng khả năng riêng trong việc sản xuất vật liệu cho vũ khí hạt nhân. Năm 1946, Truman cử Bernard Baruch, nhà tài chính và cố vấn tổng thống, đến Liên Hiệp Quốc để đàm phán về một thỏa thuận nhằm thực hiện kế hoạch của Acheson. Nhưng đề xuất này đã bị Andrei Gromyko, đại diện của Liên Xô tại Liên Hiệp Quốc, từ chối kịch liệt.
Ba năm sau, khi Liên Xô thành công trong nỗ lực chế tạo bom cho riêng mình, Hoa Kỳ và Liên Xô bước vào cái mà mọi người bắt đầu gọi là Chiến tranh Lạnh: một cuộc cạnh tranh bằng mọi phương cách thiếu bom đạn. Một đặc điểm chính của cuộc cạnh tranh này là động lực cho ưu thế hạt nhân. Ở thời cao điểm, kho vũ khí hạt nhân của hai siêu cường gồm có hơn 60.000 vũ khí, một số trong số đó là đầu đạn có sức công phá mạnh hơn tất cả các vũ khí đã được sử dụng trong tất cả các cuộc chiến tranh trong lịch sử được ghi lại. Các chuyên gia tranh luận là liệu một cuộc chiến tranh hạt nhân toàn diện có đồng nghĩa với việc kết liễu tất cả mọi linh hồn sống trên trái đất không.
Trong nhiều thập niên, Washington và Moscow đã chi hàng nghìn tỷ đô la cho kho các vũ khí hạt nhân. Ngân sách hàng năm hiện nay cho công nghiệp hạt nhân của Mỹ vượt quá 50 tỷ đô la. Trong những thập niên đầu của cuộc đua này, cả Hoa Kỳ và Liên Xô đã tạo những bước nhảy vọt trước đây không thể tưởng tượng được với hy vọng là họ có được lợi thế định đoạt. Sự gia tăng sức nổ của vũ khí đòi hỏi phải tạo ra các số liệu mới: từ kiloton (tương đương với năng lượng được giải toả bởi 1.000 tấn của chất TNT) cho vũ khí phân hạch ban đầu đến megaton (tương đương với năng lượng giải phóng một triệu tấn) cho bom nhiệt hạch hydro. Hai bên đã phát minh ra tên lửa liên lục địa có khả năng mang đầu đạn đến các mục tiêu ở phía bên kia hành tinh trong 30 phút, các vệ tinh quay quanh địa cầu ở độ cao hàng trăm dặm với các camera có thể xác định tọa độ của các mục tiêu trong vòng vài inch và về bản chất là việc phòng thủ có thể bắn trúng đạn bằng một viên đạn. Một số nhà quan sát tưởng tượng nghiêm túc là hệ thống phòng thủ sẽ làm cho vũ khí hạt nhân, „bất lực và lỗi thời“, như Tổng thống Ronald Reagan nói.
Khái niệm kho vũ khí
Trong nỗ lực định hình những phát triển này, các chiến lược gia đã phát triển khái niệm về một kho vũ khí mà nó phân biệt giữa các đợt tấn công đầu tiên và thứ hai. Họ làm rõ các yêu cầu thiết yếu cho một phản ứng trả đũa đáng tin cậy. Và họ đã phát triển hạt nhân theo bộ ba, tàu ngầm, máy bay ném bom và tên lửa đặt căn cứ trên đất liền, để đảm bảo rằng nếu kẻ thù phát hiện ra một khả năng gây tổn thương, các loại khác của kho vũ khí sẽ còn khả dụng cho một việc trả đũa. Nhận thức về rủi ro của các vũ khí trong việc phóng vô tình hoặc trái phép đã thúc đẩy ra việc phát minh các liên kết trong hành động được cho phép – khóa điện tử được đặt trong vũ khí hạt nhân mà nó ngăn chúng không được kích hoạt nếu không có mã số phù hợp để phóng. Dự phòng về an toàn cho an ninh được thiết kế để bảo vệ chống lại những bước đột phá về công nghệ mà nó có thể gây nguy hiểm cho các hệ thống chỉ huy và kiểm soát, điều này thúc đẩy việc phát minh ra một mạng máy tính phát triển thành Internet. Như chiến lược gia Herman Kahn đã nói việc này một cách nổi tiếng, họ đang „nghĩ về những điều không thể nghĩ ra được“.
Cốt lõi của chiến lược hạt nhân là khái niệm về răn đe: ngăn chặn kẻ thù tấn công bằng cách đe dọa về các chi phí không tương xứng với bất kỳ lợi ích nào có thể tưởng tượng được. Răn đe thành công, khi nó được hiểu như vậy, không chỉ đòi hỏi năng lực mà còn cả uy tín. Các nạn nhân tiềm ẩn không chỉ cần phương tiện để đáp ứng dứt khoát mà còn cả ý chí. Các chiến lược gia đã tinh lọc ý tưởng cơ bản này sâu xa hơn nữa với các khái niệm như răn đe mở rộng, tìm cách sử dụng một cơ chế chính trị, một cam kết bảo vệ thông qua liên minh, để thuyết phục các quốc gia chủ yếu không xây dựng các kho vũ khí cho riêng mình.
Đến năm 1962, khi Tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy đối đầu với nhà lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev về các tên lửa mang đầu đạn hạt nhân mà Liên Xô đã đặt ở Cuba, giới tình báo Hoa Kỳ ước tính rằng ngay cả khi Kennedy phát động một cuộc tấn công đầu tiên thành công, phản ứng trả đũa của Liên Xô với khả năng hiện có của họ có thể giết chết 62 triệu người Mỹ. Đến năm 1969, khi Richard Nixon trở thành tổng thống, Hoa Kỳ cần phải suy nghĩ lại về phương cách của mình. Một người trong chúng tôi, Kissinger, sau này đã mô tả thách thức: „Các chiến lược phòng thủ của chúng tôi được hình thành trong thời kỳ chúng tôi có ưu thế phải được xét lại dưới ánh sáng khắc nghiệt của thực tế mới. . . . Không có luận điệu hiếu chiến nào có thể che khuất sự thật rằng các kho dự trữ hạt nhân hiện có đủ để hủy diệt nhân loại. Không thể có nhiệm vụ nào cao hơn là ngăn chặn thảm họa chiến tranh hạt nhân.“
Để làm cho tình trạng này trở nên sống động, các chiến lược gia đã viết thành một cách mỉa mai cho từ tắt MAD, bản chất của nó được tóm tắt bằng một câu nói lặp đi lặp lại của Reagan: „Một cuộc chiến tranh hạt nhân không thể giành chiến thắng, và do đó không bao giờ được chiến đấu.“ Về mặt vận hành, mutual assured vulnerability, MAD, có nghĩa là, tình trạng gây tổn thương lẫn nhau là được đảm bảo. Trong khi cả Hoa Kỳ và Liên Xô đều tìm cách thoát khỏi tình trạng này, cuối cùng, họ nhận ra rằng không thể làm như vậy và phải khái niệm lại về mối quan hệ của họ. Năm 1955, Churchill đã ghi nhận sự trớ trêu tột cùng mà trong đó „sự an toàn sẽ là đứa trẻ mạnh mẽ của việc khủng bố, và sự sống còn sẽ là anh em song sinh của sự hủy diệt“. Không phủ nhận sự khác biệt về giá trị hoặc thỏa hiệp lợi ích quốc gia sống còn, các đối thủ chết người phải phát triển các chiến lược để đánh bại kẻ thù bằng mọi cách có thể ngoại trừ chiến tranh toàn diện.
Một trụ cột của các chiến lược này là một loạt các ràng buộc cả về mặc thị và minh thị hiện nay được biến đến là việc kiểm soát vũ khí. Ngay cả trước MAD, khi mỗi siêu cường làm mọi thứ có thể để đạt được thế tối thương, họ khám phá ra những lĩnh vực có lợi ích chung. Để giảm nguy cơ về các sai lầm, Hoa Kỳ và Liên Xô đã đồng ý trong các cuộc thảo luận không chính thức là không can thiệp vào việc giám sát lãnh thổ của đối phương. Để bảo vệ cho người dân của họ khỏi bị bụi phóng xạ, họ đã cấm thử nghiệm khí quyển. Để tránh „bất ổn khủng hoảng“, khi một bên cảm thấy cần phải tấn công trước với niềm tin rằng bên kia sắp chuẩn bị, họ đã đồng ý trong Hiệp ước chống tên lửa đạn đạo năm 1972 (Anti-Ballistic Missile Treaty) để hạn chế hệ thống phòng thủ tên lửa. Trong Hiệp ước về các lực lượng hạt nhân tầm trung (Intermediate-Range Nuclear Forces Treaty), được ký kết năm 1987, Reagan và nhà lãnh đạo Liên Xô Mikhail Gorbachev đã đồng ý loại bỏ các lực lượng hạt nhân tầm trung. Các cuộc đàm phán hạn chế vũ khí chiến lược, (The Strategic Arms Limitation Talks, START), dẫn đến các hiệp ước được ký kết vào năm 1972 và 1979, hạn chế sự gia tăng các bệ phóng tên lửa, và sau đó, START được ký năm 1991 và New START ký năm 2010, đã giảm số lượng. Có lẽ hậu quả nhất là Hoa Kỳ và Liên Xô kết luận rằng việc phổ biến vũ khí hạt nhân sang các quốc gia khác đặt ra mối đe dọa cho cả hai quốc gia và cuối cùng có nguy cơ về zình trạng vô chính phủ hạt nhân. Họ đã mang lại cái mà ngày nay được biết đến là chế độ không phổ biến vũ khí hạt nhân, trọng tâm của nó là Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (Nuclear Nonproliferation Treaty) năm 1968, qua đó 186 quốc gia ngày nay đã cam kết kiềm chế việc phát triển kho vũ khí hạt nhân riêng.
Kiểm soát thông minh nhân tạo
Trong các đề xuất hiện tại về cách ngăn chặn thông minh nhân tạo, người ta có thể nghe nhiều tiếng vang của quá khứ này. Yêu cầu của tỷ phú Elon Musk về việc tạm dừng sáu tháng phát triển thông minh nhân tạo, đề xuất bãi bỏ thông minh nhân tạo của nhà nghiên cứu Eliezer Yudkowsky và yêu cầu của nhà tâm lý học Gary Marcus rằng thông minh nhân tạo phải được kiểm soát bởi một cơ quan chính phủ toàn cầu mà về cơ bản nó lặp lại các đề xuất từ kỷ nguyên hạt nhân đã thất bại. Lý do là mỗi quốc gia sẽ yêu cầu các quốc gia hàng đầu phụ thuộc vào chủ quyền của chính họ. Chưa bao giờ trong lịch sử có một cường quốc lo sợ rằng một đối thủ có thể áp dụng một công nghệ mới để đe dọa sự tồn tại và an ninh của mình mà từ bỏ việc phát triển công nghệ riêng. Ngay cả các đồng minh thân cận của Mỹ như Anh và Pháp cũng đã chọn phát triển khả năng hạt nhân quốc gia của riêng mình ngoài việc dựa vào hạt nhân của Mỹ là chiếc ô dù.
Để điều chỉnh các bài học từ lịch sử hạt nhân nhằm giải quyết thách thức hiện tại, điều cần thiết là phải nhận ra sự khác biệt nổi bật giữa thông minh nhân tạo và vũ khí hạt nhân. Đầu tiên, trong khi các chính phủ dẫn đầu sự phát triển của công nghệ hạt nhân, các doanh nhân tư nhân, nhà công nghệ học và các doanh nghiệp đang thúc đẩy những tiến bộ trong thông minh nhân tạo. Các nhà khoa học đang làm việc cho Microsoft, Google, Amazon, Meta, OpenAI và một số công ty khởi nghiệp nhỏ hơn vượt xa bất kỳ nỗ lực tương tự nào trong chính phủ. Hơn nữa, các doanh nghiệp này hiện đang bị kiềm chặt trong một cuộc đấu tranh giữa họ, một điều chắc chắn là nó đang thúc đẩy sự đổi mới, nhưng phải trả bằng một giá. Khi các chủ thể tư nhân này đánh đổi giữa rủi ro và phần thưởng, lợi ích quốc gia chắc chắn sẽ bị đánh giá thấp.
Thứ hai, thông minh nhân tạo là kỹ thuật số. Vũ khí hạt nhân rất khó sản xuất, nó đòi hỏi một cơ sở hạ tầng phức tạp để thực hiện mọi thứ, từ tinh luyện uranium cho đến thiết kế vũ khí hạt nhân. Các sản phẩm là các đối tượng vật chất và do đó có thể đếm được. Nơi nào mà xác minh được những gì mà đối thủ đang làm là khả thi, thì những hạn chế xảy ra. Thông minh nhân tạo thể hiện một thách thức khác biệt rõ rệt. Sự tiến hóa chính xảy ra trong tâm trí của con người. Khả năng ứng dụng của nó phát triển trong các phòng thí nghiệm và việc triển khai nó rất khó quan sát. Vũ khí hạt nhân là hữu hình; bản chất của thông minh nhân tạo là khái niệm.
Thứ ba, thông minh nhân tạo đang tiến bộ và lan rộng với tốc độ khiến các cuộc đàm phán kéo dài không thể thực hiện được. Kiểm soát vũ khí phát triển qua nhiều thập niên. Những hạn chế đối với thông minh nhân tạo cần phải xảy ra trước khi nó được xây dựng vào cấu trúc an ninh của mỗi xã hội, nghĩa là, trước khi máy móc bắt đầu đặt ra các mục tiêu riêng, điều mà một số chuyên gia hiện nay cho rằng có khả năng xảy ra trong năm năm tới. Thời điểm này trước hết đòi hỏi một cuộc thảo luận và phân tích trong quốc gia, sau đó là quốc tế, cũng như một động lực mới trong mối quan hệ giữa chính phủ và khu vực tư nhân.
May mắn thay, các doanh nghiệp lớn đã phát triển và đưa Hoa Kỳ trở thành hàng đầu về thông minh nhân tạo nhận ra rằng họ có trách nhiệm không chỉ với các thành phần có liên quan của họ mà còn đối với đất nước và nhân loại nói chung. Nhiều người đã đề ra các cách hướng dẫn riêng để đánh giá rủi ro trước khi triển khai, giảm bớt sự thiên lệch trong dữ liệu cho đào tạo và hạn chế việc sử dụng đầy nguy hiểm các mô hình. Những người khác đang khám phá các cách để hạn chế cách đào tạo và áp đặt các yêu cầu „biết khách hàng của bạn“ cho các nhà cung cấp điện toán đám mây. Một bước quan trọng đi đúng hướng là sáng kiến mà chính quyền Biden công bố vào tháng 7, đưa các nhà lãnh đạo của bảy doanh nghiệp lớn về thông minh nhân tạo đến Nhà Trắng để cam kết chung thiết lập các hướng dẫn để đảm bảo „an toàn, bảo mật và tin cậy“.
Như một người trong chúng tôi, Kissinger, đã chỉ ra trong tác phẩm The Age of AI, đó là một mệnh lệnh cấp thiết để tạo ra một nghiên cứu có hệ thống về ý nghĩa lâu dài của các phát minh và ứng dụng đang phát triển, thường là ngoạn mục của thông minh nhân tạo. Ngay cả trong khi Hoa Kỳ bị chia rẽ nhiều hơn so với kể từ Nội chiến, mức độ rủi ro gây ra bởi sự tiến bộ vô giới hạn của thông minh nhân tạo đòi hỏi các nhà lãnh đạo trong cả chính phủ và doanh nghiệp phải hành động ngay bây giờ. Mỗi doanh nghiệp có khả năng tính toán trong toàn diện để đào tạo các mô hình mới về thông minh nhân tạo và mỗi doanh nghiệp hoặc nhóm nghiên cứu phát triển các mô hình mới nên tạo ra một nhóm để phân tích về ảnh hưởng của con người và địa chính trị trong các hoạt động thương mại của thông minh nhân tạo.
Thách thức thuộc về lưỡng đảng và đòi hỏi phải có một đối sách thống nhất. Tổng thống và Quốc hội nên theo tinh thần đó thành lập một ủy ban quốc gia bao gồm các cựu lãnh đạo phi đảng phái nổi tiếng trong khu vực tư nhân, Quốc hội, quân đội và giới tình báo. Ủy ban nên đề xuất các biện pháp bảo vệ bắt buộc cụ thể hơn. Chúng nên bao gồm các yêu cầu để đánh giá liên tục các khả năng tính toán cần thiết trong toàn diện để đào tạo các mô hình thông minh nhân tạo như GPT-4 và trước khi các doanh nghiệp đề ra một mô hình mới, họ nhấn mạnh kiểm tra nó cho những rủi ro cực đoan. Mặc dù nhiệm vụ phát triển các quy tắc sẽ đòi hỏi khắt khe, ủy ban sẽ có một mô hình trong Ủy ban An ninh Quốc gia về thông minh nhân tạo. Các khuyến nghị của uỷ ban được đưa ra vào năm 2021, cung cấp động lực và định hướng cho các sáng kiến mà quân đội Mỹ và các cơ quan tình báo Mỹ đang thực hiện trong cuộc cạnh tranh AI với Trung Quốc.
Hai siêu cường về thông minh nhân tạo

IG_Royal via Getty Images
Ngay cả ở giai đoạn đầu này, trong khi Hoa Kỳ vẫn còn đang tạo ra khuôn khổ để quản lý vấn đề thông minh nhân tạo trong nước, vẫn chưa quá sớm để bắt đầu các cuộc thảo luận nghiêm túc với siêu cường duy nhất khác trên thế giới về thông minh nhân tạo. Các nhà vô địch quốc gia của Trung Quốc trong lĩnh vực công nghệ, Baidu (công cụ tìm kiếm hàng đầu trong nước), ByteDance (người tạo ra TikTok), Tencent (nhà sản xuất WeChat) và Alibaba (doanh nghiệp hàng đầu về thương mại điện tử), họ đang xây dựng các sản phẩm tương tự tiếng Trung độc quyền của ChatGPT, mặc dù hệ thống chính trị Trung Quốc đã đặt ra những khó khăn đặc biệt cho thông minh nhân tạo. Mặc dù Trung Quốc vẫn còn tụt hậu trong công nghệ sản xuất chất bán dẫn tiên tiến, nhưng nước này sở hữu những yếu tố cần thiết để phát triển năng lượng trong tương lai gần.
Do đó, ông Biden và ông Tập sẽ gặp nhau trong tương lai gần để có một cuộc trò chuyện riêng về việc kiểm soát vũ khí thông minh nhân tạo. Cuộc họp Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương vào tháng 11 tại San Francisco mang đến cơ hội đó. Mỗi nhà lãnh đạo nên thảo luận về cách đánh giá rủi ro do thông minh nhân tạo gây ra theo cách riêng của họ, đất nước của họ đang làm gì để ngăn chặn các ứng dụng gây ra rủi ro thảm khốc và cách đất nước đảm bảo cho các doanh nghiệp trong nước không xuất khẩu rủi ro. Để thông báo cho vòng thảo luận tiếp theo của họ, họ nên tạo ra một nhóm cố vấn bao gồm các nhà khoa học thông minh nhân tạo của Hoa Kỳ và Trung Quốc và những người khác đã phản ánh về ý nghĩa của những phát triển này. Phương cách này sẽ được mô phỏng theo cách ngoại giao theo kiểu Track II hiện đang có trong các lĩnh vực khác, nơi các nhóm bao gồm các cá nhân được lựa chọn vì sự phán xét và công bằng của họ mặc dù không được chính phủ của họ chính thức xác nhận. Từ các cuộc thảo luận của chúng tôi với các nhà khoa học hàng đầu của cả hai chính phủ, chúng tôi tin tưởng rằng đây có thể là một cuộc thảo luận có hiệu quả cao.
Các cuộc thảo luận và hành động của Hoa Kỳ và Trung Quốc về chương trình nghị sự này sẽ chỉ là một phần của cuộc trò chuyện mới nổi lên trong toàn cầu về thông minh nhân tạo, bao gồm Hội nghị thượng đỉnh an toàn thông minh nhân tạo, mà Vương quốc Anh sẽ tổ chức vào tháng Mười Một và cuộc đối thoại đang diễn ra tại Liên Hiệp Quốc. Vì mọi quốc gia sẽ tìm cách sử dụng thông minh nhân tạo để nâng cao cuộc sống của người dân trong khi vẫn đảm bảo an toàn cho xã hội của chính mình, về lâu dài, một trật tự cho thông minh nhân tạo trong toàn cầu sẽ được yêu cầu. Công việc này nên bắt đầu với những nỗ lực quốc gia để ngăn chặn những hậu quả nguy hiểm nhất và có khả năng thảm khốc nhất của thông minh nhân tạo. Những sáng kiến này nên được bổ sung bằng đối thoại giữa các nhà khoa học của các quốc gia khác nhau tham gia phát triển các mô hình quy mô cho thông minh nhân tạo và các thành viên của ủy ban quốc gia như đề xuất ở đây. Các cuộc đàm phán chính thức của chính phủ, ban đầu giữa các quốc gia có chương trình thông minh nhân tạo tiên tiến, nên tìm cách thiết lập một khuôn khổ quốc tế, cùng với một cơ quan quốc tế có thể so sánh với Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế.
Nếu Biden, Tập Cận Bình và các nhà lãnh đạo thế giới khác hành động ngay bây giờ để đối mặt với những thách thức do thông minh nhân tạo đặt ra một cách thẳng thắn như những người tiền nhiệm của họ đã làm trong việc giải quyết các mối đe dọa hạt nhân trong những thập kỷ trước, liệu họ có thành công như vậy không? Nhìn vào bức tranh lớn hơn của lịch sử và sự phân cực ngày càng tăng ngày nay, thật khó để lạc quan. Tuy nhiên, thực tế là chúng ta đã đánh dấu 78 năm hòa bình giữa các cường quốc hạt nhân sẽ truyền cảm hứng cho mọi người để chế ngự những thách thức mang tính cách mạng, không thể tránh khỏi trong tương lai thông minh nhân tạo của chúng ta
8 Gedanken zu “Mỹ và Trung Quốc phải hợp tác việc kiểm soát vũ khí thông minh nhân tạo để ngăn chặn thảm họa”