Tại sao Đảng Cộng sản muốn cho kinh doanh bùng nổ
Edmund J. Malesky và Viktoria Zlomanova
Đỗ Kim Thêm dịch

Lời người dịch: Luận điểm chính của bài viết là, để đáp ứng trước tình hình mới, Việt Nam đang đi theo một đường hương mới trong việc xây dựng đất nước, đặc biệt nhất là nêu cao vai trò đóng góp của nền kinh tế tư nhân, trong khi các doanh nghiệp quốc doanh không thành công trong các nỗ lực tái cấu trúc. Về khía cạnh chính trị, bài viết chỉ ra rằng ông Tô Lâm đang củng cố quyền lực cá nhân và gia tăng tối đa việc kiểm soát bộ máy đảng và chính phủ. Thực ra, còn quá sớm để nhận định là việc tập trung quyền lực này sẽ đóng góp trong việc thực thi chính sách mới thành công đến mức độ nào. Hai tác giả không đề cập đến các khía cạnh cải cách chính trị cho Việt Nam như tinh thần đa nguyên dân chủ và trọng pháp, nhất là những tình trạng khả dĩ tổn thương làm cho đất nước còn có quá nhiều bất trắc. Hai tác giả cũng không thảo luận là nếu không có sự tham gia chính trị công khai của mọi tầng lớp dân chúng, liệu tình trạng độc tôn Đảng quyền có thể đảm bảo sự thịnh vượng, niềm tin xã hội và hệ thống pháp quyền trong lâu dài không. Hai tác giả không so sánh nguy cơ sụp đổ chế độ như tại Liên Xô và Đông Âu, nhưng cảnh báo về những sai lầm khó sửa chửa của các chế độ phát triển tập trung cao độ khác ở Philippines dưới thời Tổng thống Ferdinand Marcos và Indonesia dưới thời Tổng thống Suharto.
***
Cứ năm năm một lần, giữa những biểu ngữ đỏ, những màn trình diễn lộng lẫy được dàn dựng công phu và những bài phát biểu cao cả của đại hội đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam công bố hai văn kiện chính sách nghiêm chỉ trong tĩnh lặng: một báo cáo chính trị và một kế hoạch phát triển kinh tế xã hội. Mặc dù được tuyên truyền với những lời lẽ hùng biện của đảng, những văn bản này không chỉ là những tuyên bố về ý thức hệ. Họ xác định chương trình nghị sự trong việc quản lý cho chu kỳ chính trị trong năm năm tiếp theo. Trong một hệ thống mà nền chính trị chính thức là không rõ ràng, những tài liệu này cung cấp ý nghĩa rõ ràng nhất về những gì mà giới lãnh đạo muốn làm.
Các tài liệu mới nhất, được công bố tại đại hội đảng vào tháng Giêng, tiết lộ rằng Việt Nam đang đi theo một đường hướng mới. Đảng đang chuyển đổi mô hình chính trị đã cai trị đất nước trong bốn thập kỷ qua. Các tài liệu năm 2026 tăng vai trò trực tiếp của đảng trong việc quản lý các vấn đề của đất nước đồng thời bao gồm khu vực tư nhân và gạt các doanh nghiệp nhà nước sang một bên. Các nhà lãnh đạo Việt Nam đang đặt cược rằng đất nước cần một kế hoạch tăng trưởng mới – một kế hoạch kết hợp kiểm soát chính trị tập trung hoá với sự phát triển do khu vực tư nhân dẫn dắt – với hy vọng đạt được mục tiêu tăng trưởng hàng năm đầy tham vọng là mười phần trăm GDP.
Sự tái định hướng này diễn ra vào thời điểm bấp bênh đối với Việt Nam và Đảng Cộng sản cầm quyền. Kể từ khi cải cách thị trường bắt đầu vào cuối những năm 1980, Việt Nam đã dựa vào sự kết hợp của các doanh nghiệp tư nhân nhỏ, mà họ sản xuất hàng hóa với giá rẻ chủ yếu cho thị trường nội địa; các tập đoàn đa quốc gia sản xuất phần lớn hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam; và các doanh nghiệp lớn của nhà nước mà nó không hiệu quả về kinh tế nhưng đảng dựa vào để tái phân phối các nguồn lực cho các vùng nghèo hơn của đất nước. Mô hình kết hợp này đã tăng thu nhập, giảm nghèo và hội nhập ngành công nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhưng khi Việt Nam thoát khỏi đại dịch COVID-19 vào năm 2021, những hạn chế của việc thu xếp này ngày càng rõ ràng. Các doanh nghiệp nhà nước đã thất bại trong việc trở nên cạnh tranh trong toàn cầu và các doanh nghiệp tư nhân thiếu vốn để mở rộng quy mô, đầu tư vào công nghệ hoặc cạnh tranh ở nước ngoài. Tình trạng này khiến cho Việt Nam phụ thuộc vào các tập đoàn đa quốc gia. Một sự đồng thuận đang nổi lên được phát triển trong giới lãnh đạo đất nước rằng mô hình kinh tế hiện tại sẽ không còn duy trì tăng trưởng nhanh chóng và phân phối các lợi ích của nó.
Giới hoạch định chính sách đã thử nghiệm những nỗ lực từng phần để giải quyết những điểm yếu này. Họ đã cố gắng tái cấu trúc các doanh nghiệp nhà nước để làm cho họ cạnh tranh hơn, cải thiện môi trường kinh doanh bằng cách hợp lý hóa các quy định và đào sâu thị trường vốn bằng cách phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp và sàn giao dịch chứng khoán. Nhưng những cải cách này liên tục bị đình trệ. Các lợi ích quan liêu và cấp tỉnh đầy thế lực đã làm trì trệ việc thực hiện vì họ được hưởng lợi và tin tưởng vào vai trò hiện có của các doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế Việt Nam.
Khi Tô Lâm lên nắm quyền với tư cách là tổng bí thư Đảng Cộng sản, vào năm 2024, giới quan sát lo ngại rằng nó sẽ đánh dấu sự kết thúc của những nỗ lực cải cách kinh tế của Việt Nam. Họ kỳ vọng rằng ông Lâm, người trước đây lãnh đạo Bộ Công an, sẽ ưu tiên các mục tiêu an ninh quốc gia hơn là các mục tiêu kinh tế. Nỗi sợ hãi của họ dường như có cơ sở khi ông Lâm bắt đầu củng cố quyền lực. Ông cũng được hưởng lợi từ những thay đổi về thể chế đang diễn ra đã tăng cường sự kiểm soát của đảng đối với công việc quản trị và từ một chiến dịch chống tham nhũng làm suy yếu các đối thủ chính trị và mạng lưới bảo trợ của họ. Trong vòng 18 tháng, ông Lâm đã trở thành nhà lãnh đạo Việt Nam quyền lực nhất trong bốn thập kỷ.
Nhưng như đại hội đảng năm nay đã làm rõ là ông Lam đang sử dụng quyền lực mới của mình theo những cách bất ngờ. Giới lãnh đạo Việt Nam đang tự định vị để thúc đẩy một sự chuyển hoá kinh tế nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp tư nhân và giảm bớt vai trò của các doanh nghiệp nhà nước – một sự thay đổi rõ rệt trong phương cách làm tăng trưởng trong quá khứ của đất nước. Đó là một canh bạc táo bạo và mạo hiểm có thể khai phóng tiềm năng của đất nước hoặc để nó đối mặt với các nguy cơ suy thoái trong nội bộ mà nó đã xảy ra với nhiều chế độ chính trị tập trung hoá cao độ ở những nơi khác. Khi phải đối mặt với một môi trường thương mại toàn cầu ngày càng bất ổn, Việt Nam đang đặt cược rằng một hình thức mới của chủ nghĩa tư bản do đảng lãnh đạo sẽ dẫn dắt Việt Nam thăng tiến.
Nhà môi giới quyền lực
Trong phần lớn thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh, Việt Nam duy trì một hệ thống lãnh đạo tập thể được thiết kế để ngăn chặn bất kỳ chính trị gia riêng biệt nào trong việc thống trị nhà nước. Việt Nam phân chia quyền lực chính trị thành bốn trụ cột: Tổng Bí thư Đảng Cộng sản, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Quốc hội. Quyền lực cũng được phân phối giữa các lợi ích khu vực thông qua các khối bỏ phiếu trong Ủy ban Trung ương đảng, cơ quan tạo lập quyết định quan trọng nhất của đảng, trong đó các tỉnh chiếm gần một nửa số ghế. Hệ thống này thường hoạt động chậm chạp, nhưng tỏ ra rất ổn định.
Hệ thống lãnh đạo tập thể đã bị suy yếu nghiêm trọng. Ông Lâm tham gia đại hội đảng vào tháng Giêng với vị trí thống trị, một kết quả của sự củng cố kể từ khi ông nhậm chức và các xu hướng lớn hơn trong nền chính trị Việt Nam trong thập niên qua. Năm 2016, đảng đã phát động một chiến dịch chống tham nhũng sâu rộng, được gọi chính thức là chiên dịch Đốt Lò. Chiến dịch đã kỷ luật hơn 168.000 đảng viên và cách chức hơn 100 quan chức cấp cao, bao gồm hai chủ tịch đương nhiệm và nhiều phó thủ tướng, lãnh đạo tỉnh, bộ trưởng và ủy viên Bộ Chính trị. Ông Lâm là người đã tham gia vào nhiều cuộc điều tra này với tư cách là Bộ trưởng Công an và đã được hưởng lợi từ chiến dịch này kể từ khi ông trở thành tổng bí thư. Bằng cách gạt các đối thủ chính trị sang một bên, làm sáng tỏ các mạng lưới bao che cố thủ và củng cố sự kiểm soát của đảng đối với các thành viên, chiến dịch chống tham nhũng đã chuyển quyền lực lên hàng đầu trong hệ thống phân cấp của đảng.
Quyền lực của ông Lâm cũng tăng lên khi các thể chế mà đảng kiểm soát đã tham gia trực tiếp hơn vào việc hoạch định và thực thi chính sách. Kể từ tháng 12 năm 2024, một ban chỉ đạo trung ương do Bộ Chính trị lãnh đạo, thay vì các bộ nhà nước, đã điều phối chính sách quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới. Các nghị quyết của Bộ Chính trị đã trở nên nổi bật hơn trong hoạch định chính sách kinh tế. Và các chỉ thị mới của đảng, chẳng hạn như Quy định 196 được thông qua vào tháng 6, tăng cường quyền lực của các ủy ban đảng trong các doanh nghiệp nhà nước, củng cố sự kiểm soát của đảng đối với quản trị doanh nghiệp.
Các tài liệu về chính sách từ đại hội đảng năm 2026 cho thấy là đảng đang đảm nhận vai trò lớn hơn như thế nào. Sử dụng việc phân tích bằng văn bản có sự hỗ trợ của máy học, chúng tôi đã đánh giá tần suất và mức độ nổi bật của các từ khoá và khái niệm chính trong các báo cáo chính trị và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của mỗi đại hội đảng trong một phần tư thế kỷ qua. Bởi vì những tài liệu này đặt ra chương trình nghị sự về quản lý, tần suất viện dẫn các từ này báo hiệu của đảng có ý định định định hướng chính sách trực tiếp như thế nào. Đề cập đến đảng trong các báo cáo chính trị chính thức đã tăng từ dưới 80 trên 10.000 từ vào năm 2021 lên gần 100 trên 10.000 từ vào năm 2026. Trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, trên 10.000 từ được đề cập, thì tần suất từ khoảng 4 lần tăng lên hơn 10 lần so với cùng kỳ.
Dấu hiệu rõ ràng nhất về mức độ quyền lực mà ông Lâm đã củng cố xuất hiện vào tháng Tư, khi Quốc hội phá vỡ tiền lệ và bổ nhiệm ông làm tổng thống nước trong nhiệm kỳ năm năm bên cạnh vị trí tổng bí thư của đảng. Trong quá khứ, Việt Nam chỉ thiết lập một thu xếp như vậy chỉ là tạm thời sau một cuộc khủng hoảng, chẳng hạn như khi tổng thống đương nhiệm đột ngột qua đời. Mặc dù chức vụ tổng thống phụ thuộc vào lãnh đạo đảng theo hiến pháp, nhưng nó mang những trách nhiệm quan trọng trong vấn đề ngoại giao và an ninh quốc gia. Việc bổ nhiệm ông Lâm chính thức củng cố quyền kiểm soát của ông đối với cả đảng và nhà nước, tạo ra một mức độ quyền lực cá nhân chưa từng có trước đây kể từ khi đảng thực hiện các cải cách kinh tế và chính trị quy mô, được gọi là Đổi mới vào những năm 1980.
Cứu vãn doanh nghiệp tư nhân
Tuy nhiên, sự củng cố quyền lực này không phải là một mục đích tự tại. Đảng hiện đang đảm nhận vai trò lớn hơn trong việc điều phối chính sách, quản lý bộ máy hành chánh và chỉ đạo nền kinh tế so với trước đây. Điểm đặc biệt là chính quyền của ông Lâm đang sử dụng quyền lực của mình để theo đuổi một chiến lược kinh tế tập trung vào việc nâng cấp công nghiệp và mở rộng doanh nghiệp tư nhân trong nước. Việc áp dụng một chiến lược như vậy là cực kỳ thách thức trong hệ thống chính trị cũ, mà trong đó quyền lực bị phân tán cao độ và những thay đổi chính sách quan trọng đòi hỏi sự thương lượng giữa các nhóm đối thủ có ảnh hưởng đáng kể. Nhưng với việc ông Lam nắm quyền càng vững chắc hơn, ông có thể thúc đẩy những thay đổi kinh tế quan trọng hơn.
Các tài liệu về chính sách từ đại hội đảng hồi tháng Giêng cho thấy rõ là có sự thay đổi này: các tham chiếu đến khu vực tư nhân tăng lên đáng kể, trong khi ngôn ngữ về khu vực nhà nước giảm. Các tài liệu từ các đại hội đảng trước đây đều mô tả các doanh nghiệp nhà nước là lực lượng hàng đầu thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam; Tuy nhiên, kể từ tháng 5/2025, khi Bộ Chính trị công bố Nghị quyết 68, một văn kiện quan trọng thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân, Đảng đã chấp nhận quan điểm rằng các doanh nghiệp tư nhân trong nước, không phải khu vực nhà nước, là „động lực quan trọng nhất“ của nền kinh tế. Số lượng các phân đoạn trong các tài liệu đại hội đảng năm nay liên quan đến hoạt động kinh tế của khu vực tư nhân đã tăng hơn gấp đôi so với các tài liệu từ năm 2021.
Kể từ khi có cải cách Đổi mới, thành công của Việt Nam với tư cách là một nhà xuất khẩu phụ thuộc vào các tập đoàn đa quốc gia nước ngoài hơn là các doanh nghiệp trong nước. Các doanh nghiệp nước ngoài sản xuất gần 70% hàng xuất khẩu của Việt Nam, điều này đã thúc đẩy GDP của đất nước nhưng chưa tạo ra nền tảng ổn định cho tăng trưởng dài hạn. Các doanh nghiệp nước ngoài thường phụ thuộc nhiều vào số nhập lượng nhập khẩu trung gian trong việc sản xuất so với các doanh nghiệp trong nước và họ ít có khả năng để chuyển giao công nghệ và kiến thức mà nó có thể cải thiện năng suất của các doanh nghiệp địa phương. Các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cũng có nhiều khả năng sẽ rời đi nếu chi phí địa phương tăng, điều này không khuyến khích đầu tư vốn và cản trở sự phát triển của các doanh nghiệp trong nước sáng tạo sau đó có thể thăng tiến trong chuỗi giá trị và cạnh tranh về công nghệ. Ngoài ra, khu vực tư nhân Việt Nam vẫn còn phân mảnh: đầy rẫy các doanh nghiệp nhỏ còn thiếu năng lực đầu tư vào nghiên cứu và phát triển và đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng cần thiết để tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Phương sách mới của đảng là nuôi dưỡng một tầng lớp các nhà vô địch quốc gia bắt nguồn từ khu vực tư nhân hơn là thúc đẩy các tập đoàn nhà nước kém hiệu quả. Hà Nội đã mở cửa nhiều lĩnh vực đã từng bị nhà nước độc quyền chi phối cho việc cạnh tranh tư nhân. Các dự án cơ sở hạ tầng quan trọng theo truyền thống dành cho các doanh nghiệp nhà nước, bao gồm đường sắt, sân bay và các cơ sở sản xuất năng lượng, hiện đang được mở thầu từ các nhà thầu tư nhân. Và mặc dù các doanh nghiệp nhà nước vẫn quan trọng trong các lĩnh vực như tài chính và viễn thông, đất nước này đang theo đuổi cái mà các nhà kinh tế Việt Nam gọi là cổ phần hóa hoặc tái cơ cấu một số doanh nghiệp nhà nước bằng cách chuyển đổi chúng thành doanh nghiệp cổ phần với các cổ đông tư nhân. Điều này buộc các doanh nghiệp phải hoạt động với kỷ luật thị trường rộng lớn hơn và cho phép chính phủ giám sát và hạn chế lãng phí và lạm dụng các nguồn lực nhà nước một cách hiệu quả hơn.
Từ tháng 5/2025, khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 68 về sự cần thiết phát triển khu vực kinh tế tư nhân, giới hoạch định chính sách đã thông qua các biện pháp cụ thể để cải thiện điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân. Chúng bao gồm miễn thuế doanh nghiệp cho nghiên cứu và phát triển, ưu đãi và chiết khấu tiếp cận đất công nghiệp, mở rộng hỗ trợ tín dụng, giới hạn kiểm tra và kiểm toán, các thủ tục cấp phép hợp lý và bảo vệ pháp lý mạnh mẽ hơn chống lại việc thực thi quy định tùy tiện. Các cải cách rõ ràng nhắm vào các doanh nghiệp tư nhân lớn trong nỗ lực làm cho họ có khả năng cạnh tranh quốc tế. Không giống như các doanh nghiệp nhà nước khi họ được thoát khỏi các áp lực thị trường, những nhà vô địch quốc gia này vẫn phải chịu sự cạnh tranh, hạn chế ngân sách và các động lực khích lệ dành cho sở hữu tư nhân. Nhà nước có thể hỗ trợ trong khi dựa vào cơ chế thị trường để phân bổ vốn và khen thưởng cho sự đổi mới.
Việt Nam cũng đang chuyển hướng chính sách công nghiệp sang các lĩnh vực có giá trị cao hơn, bao gồm chất bán dẫn, cơ sở hạ tầng kỹ thuật số, năng lượng tái tạo và sản xuất tiên tiến. Chính phủ đã cam kết ít nhất 3% ngân sách nhà nước cho khoa học, công nghệ, đổi mới và hiện đại hóa hành chính, bao gồm mục tiêu đào tạo 50.000 kỹ sư bán dẫn vào năm 2030. Họ đã đưa ra các ưu đãi thuế để đầu tư vào thiết kế, đóng gói và thử nghiệm chip, đồng thời đang hồi sinh kế hoạch mở rộng năng lượng hạt nhân, trước đó đã bị tạm dừng sau những lo ngại về an toàn sau sự cố tan chảy tại lò phản ứng hạt nhân Fukushima ở Nhật Bản, vào năm 2011. Trước đây, các chính sách công nghiệp của Việt Nam chủ yếu dựa vào ưu đãi thuế và lao động giá rẻ để thúc đẩy tăng trưởng. Giờ đây, việc tập trung vào các lĩnh vực như năng lượng hạt nhân nhằm mục đích giảm bớt các điểm nghẽn thuộc cơ sở hạ tầng quna trọng đã làm cản trở việc nâng cấp trong công nghiệp.
Đảng cũng đang cải tổ bộ máy hành chánh quan liêu để hỗ trợ cho khu vực tư nhân. Để giảm bớt tệ trạng quan liêu và nâng cao hiệu quả của chính phủ, giới lãnh đạo đã sáp nhập các bộ (giảm số lượng từ 18 xuống 14), hợp nhất các tỉnh (từ 63 xuống 34) và số hóa thủ tục hành chính. Từ cuối năm 2024 đến giữa năm 2025, Việt Nam đã sa thải hoặc đề nghị nghỉ hưu sớm cho hơn 100.000 công chức. Hy vọng là giảm chi phí kinh doanh và đẩy nhanh việc thực hiện chính sách sẽ khuyến khích đầu tư tư nhân và để các cải cách được duy trì trước khi các nhóm lợi ích cố thủ, những người có thể thua cuộc trong những cải cách này, họ có thể phối hợp để phản kháng chính trị. Tháng Tư, Quốc hội tiếp tục khuyến khích những cải cách này bằng cách bầu ông Lê Minh Hưng, một nhà kỹ trị và cựu giới chức ngân hàng trung ương, làm thủ tướng – một lựa chọn củng cố sự nhấn mạnh của giới lãnh đạo về quản lý kinh tế vĩ mô, ổn định tài chính và năng lực nhà nước.
Đột phá nền tảng mới
Nhiều nhà quan sát đã đưa ra sự tương đồng giữa ông Lâm và nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình, cả hai đều đã củng cố quyền lực chính trị, tăng cường sự kiểm soát của đảng đối với nhà nước và thúc đẩy các chiến dịch chống tham nhũng quy mô lớn nhằm định hình lại nền chính trị tinh hoa và gạt ra ngoài lề một số phe đối lập chính trị. Các nhà quan sát thường coi Việt Nam như một bản sao của Trung Quốc, cho rằng Hà Nội đi theo bước chân của Bắc Kinh.
Tuy nhiên, khi nói đến chiến lược kinh tế, Việt Nam đang đi theo con đường riêng của mình. Dưới thời Tập Cận Bình, Trung Quốc đã ôm lấy khu vực nhà nước. Bắc Kinh đã thúc đẩy việc củng cố các tập đoàn nhà nước thành những nhà vô địch quốc gia, mở rộng ảnh hưởng của đảng bên trong các doanh nghiệp tư nhân, và hướng dòng tín dụng khổng lồ và hỗ trợ công nghiệp vào các lĩnh vực do nhà nước thống trị như chất bán dẫn và viễn thông. Giới phân tích ở Trung Quốc tóm tắt xu hướng này bằng cụm từ „nhà nước tiến bộ, khu vực tư nhân thoái bộ“ – một sự đảo ngược của cải cách do thị trường dẫn dắt mà nhiều người tin rằng Tập Cận Bình sẽ theo đuổi khi ông lên nắm quyền vào năm 2012.
Ngược lại, giới lãnh đạo Việt Nam ngày càng coi khu vực tư nhân là động lực tăng trưởng chính của đất nước. Việt Nam đang ôm lấy khu vực tư nhân vì Việt Nam phải làm như vậy. Giới lãnh đạo của Việt Nam hiểu rằng họ thiếu nhiều lợi thế về cấu trúc của Trung Quốc – một thị trường nội địa khổng lồ, các ngân hàng chính sách rộng lớn và nguồn vốn dồi dào, và một hệ sinh thái sản xuất rộng lớn – đã cho phép Bắc Kinh xây dựng những gã khổng lồ được nhà nước hậu thuẫn có khả năng cạnh tranh toàn cầu có khả năng thống trị toàn bộ các ngành công nghiệp. Nền kinh tế Việt Nam nhỏ hơn nhiều, phụ thuộc nhiều hơn vào thương mại và phụ thuộc nhiều hơn vào chuỗi cung ứng nước ngoài. Cố gắng xây dựng một mô hình phát triển tập trung chủ yếu vào các doanh nghiệp nhà nước sẽ gây áp lực tài chính nặng nề lên chính phủ trong khi làm trì trệ sự đổi mới và tăng trưởng năng suất.
Mô hình đặc biệt mà Việt Nam đang phát triển sử dụng quyền lực chính trị tập trung hoá để hỗ trợ trong việc mở rộng khu vực tư nhân, cải tiến công nghệ và hội nhập vào thị trường toàn cầu. Thay vì giống với Trung Quốc của Tập Cận Bình, mô hình mới nổi của Việt Nam gần giống với các quốc gia phát triển Đông Á như Hàn Quốc và Singapore, kết hợp quyền lực chính trị tập trung hoá với một chiến lược rõ ràng nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp tư nhân cạnh tranh toàn cầu. Tuy nhiên, không giống như các quốc gia phát triển Đông Á cổ điển được lãnh đạo bởi các bộ máy quan liêu bị cô lập về mặt chính trị, Việt Nam đang đặt chính Đảng Cộng sản vào trung tâm chiến lược của mình. Ở Việt Nam, các tổ chức đảng, không phải các cơ quan kỹ trị, chịu trách nhiệm liên kết các bộ, chính quyền địa phương và doanh nghiệp nhà nước với các mục tiêu phát triển quốc gia.
Cô đơn trên đỉnh cao
Môi trường mà Việt Nam đang theo đuổi là một mô hình tăng trưởng mới kém thuận lợi hơn mà giới lãnh đạo có thể mong muốn. Sự cởi mở tương tự đã thúc đẩy sự trỗi dậy của đất nước trong bốn thập kỷ qua giờ đây tạo ra những tình trạng khả dĩ tổn thương ngày càng gia tăng. Nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu, đầu tư nước ngoài và chuỗi cung ứng toàn cầu, khiến nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt với các cú sốc địa chính trị và gián đoạn thương mại thế giới.
Mô hình mới về tăng trưởng cũng mang những nguy hiểm cố hữu. Hệ thống lãnh đạo tập thể trước đây của Việt Nam, phân tán quyền lực giữa các vùng, bộ và tổ chức đảng, làm chậm quá trình ra quyết định, nhưng nó cũng buộc các lợi ích cạnh tranh trong đảng phải thương lượng với nhau và thỏa hiệp. Giới lãnh đạo ở cấp tỉnh, nhà kỹ trị và các khối khác nhau trong đảng đều có đủ ảnh hưởng để làm trì trên các chính sách mà họ phản đối. Bởi vì không có phe phái nào có thể hành động mà không có sự ủng hộ rộng rãi hơn, giới lãnh đạo phải phân phối lợi ích kinh tế một cách rộng rãi để duy trì tình trạng ổn định chính trị trong nhiều thập niên tăng trưởng.
Quyền lực tập trung hoá sẽ cho phép chính phủ thực hiện các cải cách nhanh hơn và theo đuổi chính sách công nghiệp táo bạo hơn vì có ít hạn chế hơn đối với quyền lực của mình. Nhưng nó làm giảm số lượng kiểm tra về thể chế để giúp cho các quan chức sửa chữa sai lầm chính sách và quản lý bất bình trong khu vực. Khi quyền lực trở nên tập trung hơn, hệ thống có thể trở nên ít có khả năng phản ứng với các cú sốc kinh tế hoặc kết quả phát triển không đồng đều. Các chế độ phát triển tập trung cao độ khác, chẳng hạn như những chế độ trong nửa sau của thế kỷ XX ở Philippines dưới thời Tổng thống Ferdinand Marcos và Indonesia dưới thời Tổng thống Suharto, đã tạo ra sự tăng trưởng nhanh chóng trong những năm ngay sau khi củng cố chính trị, nhưng họ đã vấp ngã khi các nhà lãnh đạo với quyền lực không được kiểm soát mắc phải những sai lầm tốn kém khó sửa chữa.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã biện minh cho sự cai trị độc đảng trong nhiều thập niên thông qua mức sống ngày càng cao và tăng trưởng bền vững. Giờ đây, giới lãnh đạo của họ đang cố gắng thực hiện một trong những quá trình chuyển đổi kinh tế-chính trị đầy tham vọng và rủi ro nhất trong ký ức gần đây ở châu Á. Họ đã đặt mục tiêu duy trì tăng trưởng GDP hàng năm khoảng 10% đến năm 2030. Nếu chủ nghĩa tư bản mới do đảng lãnh đạo của Việt Nam thành công, đất nước này cuối cùng có thể trở thành một cường quốc kinh tế ở Đông Nam Á. Nhưng nếu thất bại, Việt Nam có thể phải đối mặt với sự trì trệ kinh tế, và hệ thống chính trị của họ có thể dao động. Với quyền lực hiện đang tập trung ở cấp cao nhất, tương lai của Việt Nam phụ thuộc vào việc liệu sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn sẽ mang lại cải cách lâu dài hay làm suy yếu các cơ chế tự điều chỉnh đã ổn định đất nước trong nhiều thập niên tăng trưởng.
***
Edmund J. Malesky, Giáo sư Kinh tế Chính trị tại Đại học Duke và Giám đốc Khoa học của Trung tâm Chuyển đổi Xanh Thông minh Đại học VinUniversity.
Viktoria Zlomanova, Nghiên cứu sinh ban tiến sĩ về Khoa học Chính trị tại Đại học Duke.
Vor dem Hintergrund Ihres Beitrags frage ich mich, ob wirtschaftliche Dynamik auf Dauer ohne politischen Pluralismus ihr volles Potenzial entfalten kann. Geschichte und Politikwissenschaft zeigen, dass Wettbewerb nicht nur auf Märkten, sondern auch zwischen unterschiedlichen politischen Ideen Innovation, Korrekturfähigkeit und Verantwortlichkeit fördert. Jede Einheitspartei neigt dazu, die politische Macht nicht in den Wettbewerb mit konkurrierenden Grundsätzen zu stellen und zu teilen. Gerade deshalb bleibt die Frage entscheidend, ob langfristiger Wohlstand, Rechtsstaatlichkeit und gesellschaftliches Vertrauen ohne offene politische Teilhabe dauerhaft gesichert werden können. Vielen Dank für den anregenden Beitrag.
LikeLike