Paul Dahlke
Đỗ Kim Thêm dịch


Lời người dịch:
Tác giả
Paul Dahlke (1865–1928) là một Bác sĩ Y khoa chuyên về Homöopath của Đức. Sau khi tốt nghiệp Đại học Y khoa Berlin năm 1887, ông mở phòng mạch chuyên khoa và càng nổi danh hơn khi xuất bản 22 tác phẩm và hàng trăm tiểu luận trong chuyên đề này.
Từ năm 1898, sau khi thực hiện nhiều chuyến đi chiêm bái Phật tích tại Tích Lan và nhiều nước châu Á khác, ông bắt đầu tu tập theo tông phái Theraveda, học ngôn ngữ Pali và dịch nhiều kinh điển Nguyên thuỷ sang Đức ngữ. Từ năm 1917 – 1922, ông là Tổng Biên tập cho tạp chí Phật giáo „Neubuddhistische Zeitschrift”.
Năm 1923, ông thiết lập Buddhistische Haus (Nhà Phật giáo Berlin), tại Berlin-Frohnau. Hiện nay, tu vịện này được xem là xưa nhất tại châu Âu và là thắng tích văn hoá Đức. Tại đây, ông sống đời cư sĩ và chuyên tâm lo việc hoằng hoá Phật giáo, không chỉ về mặt lý thuyết, mà còn về thực hành.
Tác phẩm
Ông đã xuất bản nhiều sách về Phật giáo và trong số các danh tác này gồm có:
Buddhismus als Weltanschauung (1912) (Phật giáo như một thế giới quan), tác phẩm này mang lại cho ông nhiều thanh danh vì khả năng biện minh cho giáo lý Phật giáo về tinh thần thuần lý.
Aus dem Reiche des Buddha (1913) (Từ cõi Phật). Qua hình thức kể chuyện, ông trình bảy về minh triết Phật giáo.
Was ist der Buddhismus und was will er? (1918) (Phật giáo là gì và muốn gì?) Ông giới thiệu ngắn gọn về các mục tiêu chủ yếu của giáo lý Phật giáo.
Buddhismus als Wirklichkeitslehre und Lebensweg.1928) (Phật giáo như một giáo pháp về thực tại và một phương cách sống). Trong tác phẩm cuối cùng này, ông tóm tắt nhiều kinh nghiệm việc tu tập qua nhiều thập niên.
Là một dịch giả uyên bác và cẩn trọng trong việc tìm hiểu ý nghĩa nguồn gốc trong các bản kinh Pali, ông đã cống hiến cho độc giả các bản dịch Đức ngữ đạt đến mức độ hoàn hảo khi so với các bản kinh gốc: Dhammapadam (1919) (Kinh Pháp Cú), Digha-Nikaya (1920), (Trường bộ kinh), Buddha. Auswahl aus dem Pali-Kanon (1920) (Tuyển dịch tử kinh Pali), Majjhima-Nikaya (1923) (Trung bộ kinh).
Dịch phẩm
“Tầm quan trọng của Phật giáo cho thời đại của chúng ta” là bản Việt dịch từ nguyên tác Đức ngữ Die Bedeutung des Buddhismus für unsere Zeit do Nhà xuất bản Osla Schloss Verlag München – Neubiberg ấn hành lần thứ 2 năm 1924.
Qua bài viềt, tác gỉả đề cao Phật giáo là liều thuốc duy nhất vô cùng hiệu quả để chống lại tình trạng mất phương hướng tinh thần và nhu cầu xã hội của thời hiện đại. Ông chỉ ra rằng nền văn hóa xã hội phương Tây gặp phải những mâu thuẫn nghiêm trọng và không có một giải pháp thoả đáng vì tin tưởng mù quáng vào Thiên Chúa giáo cũng như chủ nghĩa duy vật. Theo ông, có hai lý do;
Một là vì xung đột lý thuyết. Các nhà tư tưởng cố chạy trốn vào trong niềm tin nơi Thiên Chúa và một linh hồn bất tử hoặc trở thành con mồi của một thế giới quan hoàn toàn máy móc vô hồn.
Hai là vì tình trạng bất lực bất lực trong thực tế. Những tệ đoan xã hội không được giải quyết tận gốc rể. Đối với phạm nhân, một số người đòi hỏi xã hội phải có tình thần bác ái theo Cơ đốc giáo; ngược lại; một số người khác đề xuất là chính quyền phải có các biện pháp cảnh sát cứng rắn hơn. Rốt cuộc, cả hai giải pháp này đều không thể giải quyết được nguyên nhân thực sự.
Theo ông, Phật giáo đã đưa ra một giải pháp tối ưu vì không phải là một giáo điều hay đức tin đơn thuần, mà là một thế giới quan hợp lý, thực hành qua con đường Trung đạo. Tầm quan trọng của Phật giáo gồm có những điểm chính như sau:
Vượt qua những đối lập: Phật giáo phá vỡ tính nhị nguyên giữa hữu thần và duy vật bằng cách giải thích thực tại của đời sống như một tiến trình có điều kiện, dựa theo giáo lý Nghiệp và Vô thường.
Khoa học về nhận thức bản thân: Thay vì hy vọng vào ân sủng của thần thánh, Phật giáo dựa vào trách nhiệm của chính mình và sự phân tích chính xác về tâm trí của chính mình.
Điều trị đau khổ: Thay vì chống lại các tệ nạn xã hội bằng các biện pháp thiếu hiệu quả, Phật giáo đề cập đến vấn đề cốt lõi của mọi điều ác là lòng tham, thù hận và ảo tưởng của con người.
Đạo đức không ép buộc: Phật giáo không dựa trên các điều răn hay luật lệ thiêng liêng, mà dựa trên sự hiểu biết hợp lý rằng những hành động tác hại chắc chắn sẽ dẫn đến đau khổ cho chính mình và người khác.
Tóm lại, Tầm quan trọng của Phật giáo cho thời đại của chúng ta của Paul Dahlke đã để lại cho hậu thế một di sản quý giá về sự rèn luyện tâm linh và vẫn còn mang tính thời sự mà dịch giả hân hạnh giới thiệu sau đây.
***
Mỗi thời đại có những khó khăn của nó. Nhưng những khó khăn của thời đại chúng ta vượt quá một mức độ nhất định, mà nó được thể hiện trong thực tế bởi sự đối kháng xã hội ngày càng gia tăng và sự bất mãn cũng tăng theo một cách tương ứng. Về mặt lý thuyết, có những nỗ lực ngày càng cấp bách để tạo ra một thế giới quan.
Khi người tốt khóc, người xấu cười, kẻ yếu đau khổ, kẻ quyền thế vui mừng; khi người lương thiện chết đói, kẻ vô lại đang hưởng lợi; khi chúng ta thấy con người cao sang nhàm chán của trong cuộc sống hàng ngày, mà anh ta dường như kiệt máu, con người nông cạn sống nhàn rỗi thoải mái của một tinh thần độc lập cá nhân, mà anh ta không biết làm gì để lấp đầy giới hạn của mình. Nói tóm lại, khi chúng ta thấy tất cả những tệ nạn này đối với một nền công lý hoàn vũ mà trong mọi khoảnh khắc của thực tại đều dẩy đầy, con người có suy nghĩ đòi hỏi hai điều: như một người thực hành là cần có một phương thuốc trị liệu, như một nhà lý thuyết là cần có một sự đào sâu nhận thức đến tận gốc rễ, mà nó bao trùm và do đó để hiểu được việc rối rắm của những mặt đối lập này. Anh ta đòi hỏi một quan điểm, mà cảm xúc không còn bị tổn thương bởi lý trí; và ngược lại, lý trí không còn bị quấy rầy bởi cảm xúc nữa.
Mức độ nhận thức mà trong đó tinh thần thấu hiểu được mọi thứ xảy ra là hợp pháp và do đó là cần thiết, được người ta gọi là thế giới quan. Nói một cách đúng đắn, người ta chỉ có thể nói về điều này khi nền công lý hoàn vũ không được tin tưởng, nhưng được hiểu.
Thời đại của chúng ta không có thế giới quan và cũng không có phương thuốc trị liệu nào cho hàng muôn ngàn tình trạng khó khăn trong xã hội. Ở cả hai phía, về mặt nhận thức luận cũng như thực tiễn, người ta bị sa lầy trong những mâu thuẫn không thể giải quyết. Một người tìm cách thỏa mãn những khó khăn của tư tưởng trong niềm tin vào linh hồn và Thượng đế, còn người khác tìm trong ví dụ số học tuyệt vời của một thế giới quan máy móc nghiêm ngặt. Với khó khăn trong sinh hoạt xã hội, một người đòi hỏi nhiều tình bác ái, người khác cần có nhiều cảnh sát hơn. Người ta chiến đấu chống lại sự nghèo đói, hành khất, sự vô luân, sự say sưa, các bệnh lan tràn, tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh, chiến tranh, v.v., v.v., mà không thể nói rằng, ở bất kỳ điểm nào trong số này, có bất kỳ sự giúp đỡ nào đã từng thực sự đạt được kết quả. Giống như tiếng sủa là „những tiềng ồn ào chung quanh“ không cho thấy gì ngoài việc chúng ta đang tiến bước, vì vậy tiếng ồn của các việc phúc lợi, hòa bình, v.v. các đại hội không cho thấy gì ngoài vai trò không thể cưỡng lại mà tất cả các tình trạng của chúng ta bị lệ thuộc.
Với tất cả những cuộc đấu tranh này để chống lại các tệ nạn xã hội, với nỗ lực tối đa, chúng ta giống như những người múc nước từ một chiếc sà lan đang chìm và không ngăn được các rò rỉ. Chúng ta bị mắc kẹt trong các triệu chứng; do đó, tất cả những cuộc đấu tranh này đều thất bại Những gì cạn kiệt ở bên trên, nó sẽ cùng thâm nhập từ bên dưới.
Tình trạng này cũng tương xảy ra như trong lĩnh vực tư tưởng. Tinh thần con người ngày càng tiến xa, khoảng cách biệt giữa đức tin và khoa học càng lan rộng và kiên quyết hơn, và mọi nhà tư tưởng càng cảm thấy đau đớn hơn. Khoa học càng phát triển bức tranh thế giới về máy móc đậm nét hơn, thì quan điểm của đức tin càng đối nghịch trắng trợn hơn. Đức tin dạy rằng đằng sau của thế giới hiện tượng là một tình trạng siêu việt, có một sức mạnh thần thánh, mà từ đó toàn bộ trò chơi này chỉ có được ý nghĩa và tầm quan trọng. Mặt khác, khoa học dạy rằng không có gì trong tất cả các diễn biến trên toàn thế giới, ngoài những gì tự biểu hiện theo cảm giác, hoặc là, ít nhất người ta không cần gì khác ngoài những gì cần để quan sát, để có thể tạo ra một thế giới quan.
Hiện nay, vị trí mà con người tự gán cho mình trong tự nhiên phụ thuộc trong phân tích cuối cùng là liệu con người có xem các diễn biến trong thế giới như một cái gì đó được sắp xếp dưới một hình thức nào đó bởi một người thứ ba không quen biết, một đấng siêu việt, một Thiên chúa, hay liệu con người xem đó như một hệ thống mà các vấn đề của nó tự sắp xếp ra khỏi chính chúng. Nói một cách khác là liệu có một quyền lực tối cao nào đang theo dõi chúng ta hay là chúng ta đang ở giữa chúng ta.
Một người hoàn toàn không quan tâm đến những gì anh ta làm liệu có bị người khác theo dõi hay không hoặc những gì anh ta làm có được „chú ý“ hay không – không có con người như vậy. Cũng tương tự như vậy, tùy theo việc anh ta giả định là, đằng sau các diển biến trên thế giới, có điều gì đó siêu việt và thiêng liêng hay không, theo một cách nào đó, anh ta sẽ luôn bị ảnh hưởng trong hành vi của mình đối với người khác. Khi nhận thức rằng có một đấng quyền năng cao hơn ở đó sẽ khiến cho anh ta một mặt phải thận trọng và mặt khác phải cân nhắc. Trong cuộc đấu sức tự do, mà ngày nay chúng ta gọi là „cuộc đấu tranh sinh tồn“, một số ức chế tự động sẽ được đưa vào để ngăn chặn hoạt động vô đạo đức của trò chơi này. Những ức chế này sẽ thiếu vì người ta không tin; ở nơi đâu mà như thế giới quan cơ giới làm. người ta không nhận ra gì khác ngoài những gì được thể hiện đầy cảm giác và dể nhận ra.
Do đó, trò chơi đọ sức tàn bạo này, như khi nó tự thể hiện một cách đáng sợ trong „sự tiến bộ“ của nền văn minh của chúng ta qua „cuộc đấu tranh sinh tồn“ tàn nhẫn này, cũng như khi nó tích cực thể hiện sự thăng tiến mù quáng càng đi xa khi có thể; ngược lại, cũng như trong sự kháng cự tiêu cực mù quáng không kém đối với sự thăng tiến này.
Mọi sự tôn trọng tha nhân, mọi hành động tự kiềm chế, tinh thần vô vị lợi đều là một hành động đạo đức. Một hành động như vậy, nếu nó không chỉ đơn thuần là tu luyện hoặc khổ hạnh, thuộc về động cơ. Đức tin đưa ra một động cơ như vậy: kính sợ Đức Chúa Trời, hoặc, như chúng ta thường nói, kính yêu Đức Chúa Trời. Một động cơ như vậy không có trong khoa học. Khoa học không thuộc về phạm vi đạo đức vì nó không thuộc về tôn giáo.
Hiện nay, đó là một sự thật là đức tin không có thể học được. Nếu bạn không có đức tib, thì bạn không thể thu nhận nó được. Bạn chỉ có thể chỉ là một tín đồ, nhưng không thể trở thành tín đồ.
Ngược lại là đúng như vậy! Đức tin giống như năng lượng trong hình ảnh về thế giới năng lượng của các nhà vật lý: nó trở nên bất động, nó phụ thuộc vào điều mà nhà vật lý gọi là định luật „entropy“. (Định luật entropy, được gọi là Định luật thứ hai của khoa học về nhiệt động lực. Luật này cho rằng tổng entropy không bao giờ có thể giảm trong một hệ thống cô lập; nó luôn tăng lên trong các quá trình tự phát hoặc không đổi ở trạng thái cân bằng. CTCND)
Và mỗi nhà tư tưởng phải tự hỏi mình: „Thế giới lấy đâu ra nội dung cần thiết của đạo đức khi đức tin sẽ biến mất?“ giống như nhà vật lý tự hỏi mình: „Thế giới lấy đâu ra nội hàm năng lượng cần thiết khi tất cả nhiệt lượng sẽ biến mất?“
Điều phân biệt giữa thời đại và hoàn cảnh của chúng ta với mọi thứ đã xảy ra trước đây là toàn bộ bề mặt của địa cầu đã được mở ra cho nền văn minh hiện đại, hoặc ít nhất là đang trong tiến trình này. Đây là điều quan trọng nhất đối với vấn đề của chúng ta. Chúng ta thiếu một sự man rợ cứu rỗi, như trong thời kỳ Đế chế La Mã tan rã, có thể lại bổ sung cho những niềm tin đã cạn kiệt. Viễn cảnh trái đất già cỗi của chúng ta có thể được cung cấp một chất liệu mới về niềm tin trẻ trung từ một hành tinh khác vẫn còn một chặng đường dài. Do đó, chúng ta bị đặt vào tình trạng khẩn thiết của việc tự tạo ra các giá trị luân lý mới từ để thay thế cho những đức tin lung lay đang lạc lối.
Đây là nhiệm vụ của con người và thời hiện đại. Vấn đề là liệu chúng ta có thể sớm làm chủ để hoàn toàn chế ngự điều kiện kỷ thuật, mở rộng điện thoại vô tuyến trên toàn cầu, và những vấn đề khác như vậy là gì, tất cả đều bắt nguồn từ một câu hỏi: „Có thể chinh phục thời gian và không gian ở mức độ nào, thu hẹp chúng đến mức vô cùng nhỏ“, tất cả những vần đề này không quan trọng bằng vấn đề: „Các giá trị đạo đức mới đến từ đâu?“ Thế giới rất có thể tồn tại nếu không có tất cả những tiến bộ này của nền văn minh. Thật vậy, có nhiều người giả định rằng nó có thể tồn tại còn tốt hơn mà không có tất cả những điều này – nhưng nó không thể tồn tại nếu không có đạo đức.
Hiện nay, thời đại của chúng ta thực sự đang làm việc để tạo ra các giá trị đạo đức mới, nhưng tất cả những giá trị này phủ nhận đặc điểm nhân tạo, tổng hợp của chúng quá ít, giống như các dược phẩm tổng hợp của hóa học hiện đại phủ nhận tính chất nhân tạo của chúng. Loại thuốc này thiếu nhu cầu nội tại vốn có trong tất cả những gì tự nhiên. Tất cả những nỗ lực đạo đức của thời đại chúng ta vẫn giữ được đặc điểm của các việc thử nghiệm hoặc của thể thao. Các thử nghiệm này có thể tiến hành như nó đã làm; nhưng cũng có thể đi theo một hướng khác, và thậm chí có thể trong trường hợp khẩn cấp bị bỏ qua hoàn toàn.
Tất cả chúng đều là kết quả, chức năng của một cảm giác, nhưng không phải là kết quả, chức năng của một nhận thức. Người ta cảm thấy rằng làm điều thiện là tốt hơn điều ác, nhưng không hiểu tính tất yếu của việc làm này là gì. Nhưng về cơ bản, chừng nào tôi không hiểu điều này, tôi là một kẻ ngu ngốc hay hèn nhát, nếu tôi kìm chế những ham muốn của mình. Trong bản chất sâu thẳm nhất của con người là hướng đến việc tìm kiếm niềm vui thú và sự thỏa mãn nó. Nếu con người muốn chiến đấu chống lại nó, nói một cách thuần lý, người ta phải có động cơ. Người ta phải hiểu rằng điều thiện là phần thưởng, điều ác là tự trừng phạt; người ta phải hiểu đó là công lý hoàn vũ.
Đây chính là nơi mà Đức Phật đưa ra để áp dụng.
Nền công lý hoàn vũ, điều mà mọi nhà tư tưởng không tin, nhưng muốn hiểu, là kết quả của giáo lý về Nghiệp (Karma). Giáo lý này có tầm quan trọng của Phật giáo cho một thế giới quan.
Đức Phật dạy rằng mỗi chúng sinh là một tiến trình đốt cháy xuyên suốt. Như vậy, tiến trình này là một hình thức của một năng lượng cá nhân, mà nó mang một giá trị mới trong từng khoảnh khắc của cuộc sống, bởi vì có thể nói nó tự nẩy nở cùng với vật chất của nó. Giống như năng lượng ấm áp của ngọn lửa bộc phát trong từng khoảnh khắc và phát triển phù hợp theo những điều kiện tiên khởi của nó, vì vậy năng lượng bản ngã (nghiệp) của một chúng sinh mới nảy sinh vào mọi khoảnh khắc, mang một giá trị sinh học mới trong ý chí. Mọi sinh vật đều tự tồn qua những lực của ý chí trong nội tại của nó. Năng lượng là một thứ cảm giác tất yếu khộng cảm nhận bằng các giác quan, bởi vì mọi thứ cảm giác do giác quan mang lại là hình dạng, biểu lộ của năng lượng.
Năng lượng ái ngã cũng tất yếu là một trừu tương, lý tưởng. Nhưng đối với cá nhân, nó trở nên là một cảm giác có thể cảm nhận được, có thể hiểu được như là ý thức.
Với điều này, câu hỏi chính yếu của mọi thế giới quan là „Có một điều gì đó không thể cảm nhận được bằng cảm giác không?“ nó được giải quyết trong một sự ngạc nhiên thực sự tuyết hảo:
Có một cái gì đó không thể cảm nhận bằng cảm giác, nhưng nó cũng không giống như một trạng thái siêu việt theo cách mà đức tin muốn, nhưng là nơi mà có thể đặt ra vấn đề này, việc phi cảm giác này cũng có ở đó cùng lúc khi điều duy nhất trên toàn thế giớimà tôi có thể tiếp cận trực tiếp: ý thức của tôi. Và không có gì là cần thiết để hiểu nó như vậy như là năng lượng.
Chính Đức Phật nói: „Đó là tác ý mà ta gọi là nghiệp“. Trong ý thức, từng cá nhân trải nghiệm thông qua chiêm nghiệm nội quan, trực giác trong chính mình, rằng sức mạnh trên cơ sở mà cá nhân tồn tại không phải là một „vĩnh cửu nội tại“, không phải là „linh hồn“, mà là một sự phát sinh mới trong mổi thời điểm từ các điều kiện tiên khổi mà nó phù hợp. Anh ta trải nghiệm trong chính mình, trong cảm xúc và lương tâm của mình rằng sức mạnh này thể hiện trong mọi khoảnh khắc của cuộc sống một giá trị sinh học mới; giá trị này thay đổi theo những gì anh ấy làm, nói và suy nghĩ. Anh ta tự trải nghiệm, chính vì suy nghĩ là năng lượng, anh ta có thể tự tạo cho mình tự nội tại một sự thay đổi hướng đi bất cứ lúc nào. Đó là kinh nghiệm tuyệt vời của người có suy nghĩ khi anh ta nhận ra rằng: „Ở đâu mà tôi muốn làm điều xấu, ở đó tôi có thể chọn điều tốt; và tôi có thể làm điều đó bởi vì suy nghĩ tự nó là sức mạnh.“
Từ nhận thức rằng: „Tôi hoàn toàn là hình thức của một năng lượng cá nhân thuần khiết, đó là nghiệp của tôi“, sự tất yếu về tâm linh này là kết quả của kết luận mà đối với người phương Tây chưa từng nghe việc „tái sinh sau những hành động“. Năng lượng không bao giờ có thể phát sinh, ở nơi mà nó không có điều kiện thành hình trong lúc tiên khởi (vô thuỷ). Với thực tế là nghiệp ở đó, nhất thiết phải cho rằng nó chưa bao giờ vắng mặt.
Nghiệp của tôi, lực mà dựa trên nghiệp tôi hiện nay đang nói là „tôi“, luôn luôn hoạt động, không phải như một lực tự do – đó là vấn đề của niềm tin – nhưng luôn luôn phụ thuộc vào vật chất của nó, nó cũng giống như mọi năng lượng vật lý chỉ tồn tại trong sự phụ thuộc vào vật chất mà nó tự thể hiện. Thực tại không bao giờ thể hiện sức mạnh hoặc chất liệu cho chính nó, mà chỉ có sự thống nhất của cả hai: các tiến trình. Thể loại thuần khiết nhất của tiến trình thực sự là tiến trình đốt cháy.
Sự thật là: „Tôi ở đây“ có nghĩa là: Từ trong tình trạng không có điền kiện thành hình lúc tiên khởi, nó đang đốt cháy. Nếu một hình thức sinh tồn tan hủy khi chết, thì nghiệp này của nó tìm được một chỗ đứng mới ngay lập tức, đó là trong bụng mẹ, nơi mà nó được hòa hợp một cách đặc biệt và duy nhất, và ở đó nó châm ngòi cho một tiến trình bản ngã mới, mà nó sẽ hình thành theo chất liệu tạo thành bào thai, có thể nói như là nhiên liệu. Trứng của người mẹ và tinh trùng của cha chỉ tạo khả năng cho sinh vật mới, trong tác động của năng lượng, khi nó được thêm vào, chỉ tự nhận ra và biến thành hiện thực.
Tuỳ theo giá trị sinh học, mà nghiệp của tôi thể hiện vào lúc chết, địa điểm mới sẽ được tạo ra để nó hòa hợp về mặt sinh học. Nói cách khác, tùy vào tính cách của tôi tạo ra, kiếp sống tiếp theo của tôi sẽ được hình thành. Bởi vì cá tính của tôi là nghiệp của tôi. Và nghiệp, năng lượng ái ngã, bám víu vào giây phút chết trên chất liệu tạo thành bào thai, nơi nó có thể bám víu, bởi vì, như là kết quả của sự hòa hợp cụ thể, độc đáo, nó phải bám chấp ở đây đúng lúc – tái sinh sau những hành động!
Ở đây không phải là nơi để tôi đào sâu hơn về giáo lý của Nghiệp. Trong cuốn sách Buddhismus als Weltanschauung, NXB Walter Markgraf, Breslau, của tôi, tôi đã cố gắng mang lại cho chúng ta gần hơn về những ý tưởng này, mà vốn nó đã hoàn toàn xa lạ với tư duy quy nạp đơn phương của chúng ta, nhưng mà trong thực tế là những ý tưởng tự nhiên, Ở đây, tôi chỉ cần nói rằng với giáo lý về Nghiệp của Đức Phật là nền công lý hoàn vũ được đề ra, điều mà mọi nhà tư tưởng đều không tin, nhưng muốn hiểu. Một khi tôi đã hiểu được „nền công lý hoàn vũ“ này, thì hiệu ứng hồi tố nhất thiết phải tự thể hiện trong hành vi của tôi.
Nếu tôi đã hiểu rằng mọi thứ tôi làm, nói, suy nghĩ, đều được chính tôi thực hiện đều có tác động đến bản thân, thì những ức chế tự nhiên trong cuộc đọ sức tự do sẽ quay trở lại. Những ranh giới nội tại đã mất đi khi tôi mất đi niềm tin. Về cơ bản, tất nhiên động cơ trong cả hai trường hợp là khác nhau. Thay vì „kính yêu Thiên Chúa“, là có sự „sợ hãi trước bản thân“. Giáo lý về Nghiệp của Đức Phật dẫn đến một đạo đức tự nhiên, nó không còn bắt nguồn từ việc cát trôi của cảm xúc, giống như mọi đạo đức của đức tin, nhưng trong chiều sâu hiểu biết lạnh lùng, an toàn.
Hai phép lạ mà không thể giải thích được từ quan điểm của khoa học là một mặt, chết đi là biến mất rõ ràng của năng lượng; và mặt khác, được sinh ra, tức là sự tái xuất hiện rõ ràng của năng lượng – ở đây, nó được giải quyết trong một sự hiểu biết thống nhất: sự phát sinh ở đây đòi hỏi sự diệt vong ở chổ khác.
Cái chết phải được đánh đổi bằng sự sinh ra đời. Giống như sự ấm áp biến mất ở đây tương ứng với chuyển động ở chổ đó, vì vậy một chủng loài mới phát sinh ở chổ đó tương ứng với một chủng loại biến mất ở đây. Toàn bộ các diễn biến trong thế giới phải tự hiểu là nó xuất phát từ trong các diễn biến thế giới, điều mà khoa học cố gắng chỉ ra trong vô vọng, và tuy nhiên đó là sự tất yếu tâm linh của các lực thực sự, mà đức tin trong hành vi của mỉnh sẽ tạo công bình, đã được cứu rỗi. Nhưng cũng giống như sự chuyển động phát sinh từ một giá trị nào đó của nhiệt, nó không giống với nhiệt đã biến mất hay bất kỳ thứ gì khác, vì vậy chúng sinh mới phát sinh ở đây khi sinh ra cũng không giống với sinh vật đã chết ở đó, cũng không giống bất kỳ sinh vật nào khác. Không có gì có thể nói khác hơn là: Nó đang cháy! Nó cháy từ tình trạng không có điều kiện thành hình từ ban đầu, mà nó đúng theo quy luật do hoàn cảnh và điều kiện tiên khởi. Đó là nhữngtình trạng tự chịu trách nhiệm không thể giảm bớt, nó buộc cá nhân phải có đạo đức, và Phật giáo là tôn giáo thực sự của con người, bởi vì con người cho thấy bản thân con người là một sinh vật tự chịu trách nhiệm.
Đạo đức phát sinh từ giáo lý về Nghiệp như một điều cần thiết, như một chức năng của sự hiểu biết, là kết quả đầu tiên và quan trọng nhất của tư tưởng Đức Phật, bằng chứng về „thực tại“ của nó. Bởi vì thực tế là những gì gây hiệu ứng. Và điều mà tôi đã hiểu Đức Phật được chứng minh bởi sự kiện rằng tôi bị Ngài nắm giữ, Ngài có ảnh hưởng đến tôi, Ngài quyết định hành vi của tôi trong mọi khoảnh khắc, Ngài buộc tôi phải vị tha.
Phật giáo là tôn giáo duy nhất trong tất cả các tôn giáo, tất cả các thế giới quan, các triết học, Phật giáo đề ra một đạo đức thực sự, tức là một đạo đức là chức năng của sự nhận thức. Trong đó là tầm quan trọng không thể thay thế của Phật giáo đối với tất cả mọi người, và đặc biệt là đối với thời đại của chúng ta.
Người ta hỏi là liệu cá nhân có thể phải tuân thủ điều này không? Chẳng phải tinh thần vô vị kỷ được đòi hỏi này sẽ là một mệnh lệnh tuyệt đối đã chết hay sao?
Không. Với việc đòi hỏi tuân thủ, điều kiện về khả năngđượcđưa ra. Cả hai là kết quả của hành động duy nhất về sự nhận thức. Khi tôi đã nhận ra rằng trên cơ sở của một năng lượng cá nhân thuần túy từ tình trạng không có điều kiện hình thành tự ban đầu, tôi là một tiến trình đốt cháy đang tồn tại, trong đó không có linh hồn nào giống như một sợi chỉ đỏ, như một cái gì đó che dấu về một bản chất thường hằng, vĩnh cửu, nhưng trong đó mỗi „tình trạng hiện tại“ từ chính nó sẽ tạo ra tuần tự tiếp theo một „tình trạng hiện tại“ khác, như với ngọn lửa, thì điều này có nghĩa là: „Tôi không phải là một bản ngã thực sự (vô ngã), không phải là một cái „tôi“ theo nghĩa thông thường, mà là một bản sắc tự tại. Trong cái nhìn nội quan, tôi trở nên hoàn toàn có thể tiếp cận với bản thân mình như một tiến trình đốt cháy thuần khiết, như một cái gì đó tự duy trì chính mình. Sức mạnh trên cơ sở mà tôi đang là trở nên có thể hiểu được đối với tôi, cá nhân, như là „ý thức“ và tự chứng tỏ mình là một cái gì đó nảy sinh mới nhiều lần trong mọi khoảnh khắc. Bởi vì mỗi khoảnh khắc của ý thức luôn là một „tình trạng hiện tại“ mới.
Như vậy, tôi cũng không là một tiến trình thuần tuý nhằm dung hoà từ tình trạng dị biệt của căng thẳng, như trong thế giới quan máy móc muốn cho tôi là như vậy, tôi cũng không phải là một tài năng về tâm linh, một bản sắc tự tại, một cái „tôi“ đích thực mà đức tin muốn làm cho tôi.
Bản chất này của tôi như một tiến trình đốt cháy thực sự được Đức Phật diễn đạt qua chữ anatta = vô ngã. Và điều này đưa chúng ta trở lại câu hỏi trên: „Có thể tuân thủ theo lời khuyên về tinh thần vị tha không?“
Câu trả lời là: Tôi có thể là vị tha ngay khi tôi hiểu rằng tự mình là vô ngã, như anatta. Như vậy, lòng vị tha phù hợp với nhận thức của tôi. Tôi sẽ phải tự dối mình, nếu tôi muốn mình là ích kỷ, sau khi tôi đã hiểu! Điều này đưa chúng ta đến tầm quan trọng không thể thay thế khác mà Phật giáo có đối từng người một và đặc biệt là đối với thời đại của chúng ta: Phật giáo làm xoa dịu đi, gỉảm căng thẳng của cuộc đấu tranh sinh tồn.
Rốt cuộc, tất cả các tệ nạn xã hội đều bắt nguồn từ cuộc đấu tranh sinh tồn mù quáng, không phê phán này. Bởi vì chúng ta không khả năng để nắm bắt được ý nghĩa và tầm quan trọng của cuộc sống; bởi vì chúng ta không biết chúng ta là gì, vì vậy chúng ta làm cho „sự sống“ trở thành một giá trị tự tại và do đó cuộc đấu tranh sinh tồn là một đức hạnh cần thiết, một điều gì đó thuộc về nhân loại, thuộc phẩm giá con người. Trong một sự đảo ngược không tự nhiên của khái niệm, cuộc đấu tranh sinh tồn đã trở thành mục tiêu của chính cuộc đấu tranh. Và trong ý tưởng này, mà trong suy nghĩ, chúng ta tàn bạo đến nỗi không còn có thể hoặc không dám đặt câu hỏi về bản chất của những gì mà chúng ta đấu tranh, câu hỏi về quyền sinh tồn và do đó của cuộc đấu tranh sinh tồn.
Dấu hiệu rò rỉ trong việc luân chuyển của sinh hoạt xã hội là việc say mê mù quáng trong cuộc sống, bản năng sống mà không phê phán, nắm bắt mà không quan tâm đến ai, thậm chí mà còn không biết tại sao lại nắm bắt.
Do đó, sự giúp đỡ chỉ có thể đến từ suy nghĩ đúng đắn. Tất cả chúng ta đều chìm đắm trong thực tế của „cuộc sống“ như một con người trong đại dương. Đầu tiên, chỉ có Đức Phật mới mang lại cho từng cá nhân đạt được một quan điểm, mà nó cho phép anh ta tự hỏi một cách phê phán lạnh lùng về lý do sinh tồn. Nếu tôi đã hiểu rằng cuộc sống không có giá trị tự tại, không phải là một cái gì đó mà mang lý do tồn tại, mà nó là một cái gì đó mà trước tiên phải lần lượt tạo ra lý do mới về sinh tồn cho chính nó, chính cá nhân phải „tạo ra giá trị cho cuộc sống“. Nếu cuộc sống không có giá trị nào ngoại trừ những gì mà chính chúng ta ban cho nó, điều này sẽ có ảnh hưởng sâu xa nhất đến việc hạ giá tất cả các giá trị của cuộc sống. Từ nhận thức sâu xa về sự tự bảo vệ tình trạng không có điều kiện hình thành ban đầu này, quyết định lạnh lùng, rõ ràng có ý thức để thoái bước, bỏ cuộc, khước từ sẽ trỗi dậy trong thầm lặng, chậm rãi, nhưng không thể cưỡng lại được, nó giống như cảnh mặt trăng thoát ra khỏi lâu đài tâm tối. „Không có gì đáng giá.“ Trong việc hiểu biết đích thực của cuộc sống, người ta đi đến nhận thức rằng „cuộc sống“ là một cái gì đó sẽ tốt hơn nếu không có ở đó, bởi vì nó là một trò chơi không có điều kiện khởi đầu, tự duy trì và do đó không có mục đích.
Trò chơi này không thể được kết thúc bằng cách buộc phải cắt đứt thô bạo, điều đó chỉ có nghĩa là thay đổi sân khấu, nhưng bởi thực tế là trong nhận thức luôn rõ ràng hơn bao giờ hết về bản chất của cuộc sống, sự gắn bó với cuộc sống ngày càng trở nên suy yếu. Việc luôn trổ Nghiệp mới trong các chuyển động của ý chí chấm dứt.
Người phương Tây chỉ có khuynh hướng phê phán giáo lý của Đức Phật là bi quan. Điều này sai. Phật giáo là lý giáo pháp về thực tế. Đức Phật không làm gì khác ngoài việc hướng dẫn đến tư duy đích thực. Ngài chỉ ra rằng cuộc sống như những gì nó thực sự là, nó là giá trị của một bản chất có điều kiện. Đối với từng cá nhân, những kết luận tất yếu không liên quan gì đến giáo lý. Như là một doanh nhân, nếu như trong nhiều năm tôi đã bị ru ngủ trong ảo tưởng về thặng dư do kế toán sai lầm, và bây giờ trong việc bút toán chính xác tìm ra một sự thâm hụt, thì sức mạnh của lý trí đã không thực sự loại bỏ thặng dư đó, nhưng đã không làm gì ngoài việc tính toán một cách chính xác, vì nó cũng có thể mang lại ánh sáng của một thặng dư lớn hơn để đổi lại. Tương tự như vậy, nếu trong suy nghĩ đúng đắn, kết quả cuộc sống là „không thực chất“, thì đây không phải là một cuộc đấu tranh chống lại cuộc sống và các giá trị của nó, nhưng chỉ đơn giản là một sự tính toán đúng đắn về các gương mẫu của cuộc sống. Đức Phật không phải là một nhà thuyết giáo về sám hối, người khuyên nhủ hối hận về các thái độ sai lầm – Ngài chỉ dạy suy nghĩ đúng đắn; mọi thứ khác chỉ là một chức năng của sự nhận thức mới này của tôi.
Đời sống tinh thần của chúng ta dưới mọi hình thức đều có thể được hiểu như là sự đánh giá lại những giá trị của cuộc sống đã luôn tồn tại. Ngay cả khi sự đánh giá lại trong tâm trạng bi quan này mở rộng đến việc đảo ngược, thậm chí đến mức hủy diệt tàn bạo trong việc tự tử – nó luôn là cùng một loại bột được người ta nhào nặn, nói theo một cách có ít nhiều trong ý nghĩa tinh thần. Trái ngược với tất cả những nỗ lực này, Đức Phật với giáo lý Nghiệp của Ngài dẫn đến sự mất giá trị của tất cả các giá trị cuộc sống: sau khi trở nên vô giá trị, chúng thoát ra khỏi tầm tay của nhà tư tưởng một cách tự nguyện.
Tất nhiên, đây là câu chê trách thông thường: „Thế giới sẽ ra sao nếu mọi người suy nghĩ như Phật giáo!“. Câu nói này chỉ có ý nghĩa và tầm quan trọng khi người ta nhìn „thế giới“ như một khái niệm trống rỗng. Thế giới đích thực là tổng số của tất cả những gì có ở đó, trước hết là của các chúng sinh. Trong nhận thức về tình trạng khộng có điều kiện nguyên uỷ thành hình của cá nhân, tôi nhận ra giá trị có điều kiện của cuộc sống; tôi đã hiểu rằng tinh thần vị tha, buông bỏ, chấm dứt không chỉ là bổn phận, mà thực sự nó chỉ mang lại sự thỏa mãn duy nhất đích thực bởi vì nó làm cho tôi hòa hợp với chính mình, thì nếu tôi muốn cho tha nhân tốt đẹp, tôi có thể như thế khi tôi mong muốn cho tha nhân cũng muốn giống như vậy. Và câu hỏi „thế giới sẽ ra sao nếu mọi người đều nghĩ theo như Phật? giáo“ có cùng giá trị với câu hỏi: „Bữa tiệc sẽ ra sao nếu tất cả các vị khách đến dự về nhà?“
Với nhận thức về tình trạng không có điều kiện thành hình trong nguyên uỷ của các tiến trình trong cuộc sống, mọi mục tiêu của cuộc sống đều biến mất. Chỉ còn lại một mục tiêu thực sự: buông bỏ, tham gia vào trò chơi không có điều kiện bắt đầu.
Đến chừng nào người ta không hiểu bản chất của chính mình, thì kết luận này sẽ luôn như là một việc không tự nhiên. Một khi người ta đã hiểu, những hậu quả do nó gây ra là một chức năng tự nhiên của sự hiểu biết này.
Hiện nay, tư tưởng của Đức Phật là một trực giác, và thực sự là trực giác thuần khiết duy nhất có thể cụ thể là một trực giác liên quan đến ý thức của riêng tôi, mà đừng nhầm lẫn với hành động giác ngộ của đức tin, nhưng không gì khác hơn mà có thể nói là một sự thâm nhập vội vàng vào chính thực tại, mà sự vô minh của chúng ta ngăn cản chúng ta hiểu được như vậy.
Là một trực giác thuần khiết, các tư tưởng của Đức Phật là không thể tiếp cận với bằng chứng khoa học, vốn luôn có tính chất quy nạp. Bằng chứng theo ý nghĩa của khoa học là trở lại một cái gì đó đã được biết. Khả năng này tự loại trừ ý thức trong chính nó, ngay cả khi bản thân tâm lý học hiện đại không thoái bước trước sự phi lý cuối cùng này. Ý thức là chính nó và không có gì hơn và ngoài ra không đòi hỏi gì là nó chỉ được hiểu như vậy. Đó là „can đảm dùng lý trí” để nhận biết trong hình thức nghiêm ngặt nhất, thuần khiết nhất của nó mà nhà tư tưởng ở đây đối mặt
Giống như các trực giác bị hạn chế của khoa học – định luật bảo toàn lực của Robert Mayer, định luật rơi của Galileo, định luật Newton, v.v. – không trực tiếp trừu tượng hóa từ kinh nghiệm, điều này không thể chính xác bởi vì thực tế không chỉ cho thấy một định luật bảo toàn cũng như một định luật rơi, v.v., thuần tuý nào, mà là kết quả về sự tĩnh lặng suy tư trong kiên nhẫn, chánh niệm trên các sự kiện. Khi Newton được hỏi làm thế nào ông có được những khám phá của mình, ông trả lời: „Bằng cách để cho suy nghĩ của tôi luôn tập trung trong một đối tượng.“
Cũng vì vậy mà trực giác của Đức Phật chỉ có thể phát sinh trong sự tư duy tĩnh lặng với chánh niêm và kiên nhẫn. Phật giáo là „tiến trình hồi quan phản tĩnh“ thuần túy, một sự phản tỉnh về tư tưởng từ thế giới, nơi nó luôn quen thuộc với chính con người phàm phu.
Nhưng điều này đòi hỏi sự tĩnh lặng và cô đơn. Chúng là điều kiện tiên khởi cho tất cả những tư duy đích thực. Nhưng lối sống hiện đại hầu như không cho phép cả hai điều này xảy ra. Cuộc đấu tranh mù quáng cho sự sinh tồn này, những điều tốt đẹp mới của nền văn minh, mà một nền công nghệ phát triển cao độ và không bao giờ dừng bước đổ ngập lên chúng ta, ngày càng xa lánh chúng ta, làm cho sự giao tiếp của cá nhân với chính mình, một sự cô đơn với chính mình gần như không thể đạt được.
Nền văn minh hiện đại với sự thúc đẩy của nó ra bên ngoài đã không làm cho nó trở nên xa lạ với chúng ta hơn là chúng ta đối với chính mình. Và nếu một cách tình cờ nào đó, cá nhân có lần tiếp xúc với chính mình, anh ta không biết phải bắt đầu làm gì với chính mình, sống một mình với chính mình làm cho anh ta buồn chán hoặc sợ hãi, và với tất cả quyết tâm lớn hơn, anh ta lao mình vào tha nhân. Bởi vì chúng ta không nhận ra chính mình, và do đó không thể tìm thấy mình trong một „mục tiêu“ của cuộc sống, mà say mê tìm thấy trong công việc, trong cuộc đấu tranh mù quáng cho sự sinh tồn, trong đó chính chúng ta luôn đặt ra những mục tiêu mới. Trong quan niệm sai lầm này, „công việc“ đã trở thành tật xấu của nền văn minh hiện đại, nó ngăn cản chúng ta đến với chính mình.
Cá nhân phải hiểu về bản chất của chính mình, sống với chính mình là mang lại kết quả và có lợi, suy ngẫm về bản thân để tìm kiếm sự giao tiếp này với chính mình. Ở đây, nó giống như một vòng luẩn quẩn, bởi vì chúng ta không liên kết với chính mình, không học cách biết về giá trị của chính mình, điều này chỉ nảy sinh trong nhận thức về trách nhiệm bản thân – và bởi vì chúng ta không biết giá trị của chính mình, chúng ta ngày càng mất đi khuynh hướng liên kết với chính mình, dành ưu tiên hơn để sống ít nhiều trong một thế giới khái niệm tâm linh, điều này khiến cho ý nghĩa về thực tế ngày càng com cụm lại.
Một sự thay đổi, một sự biến dạng trong chu kỳ sai lầm này chỉ có thể đến thông qua việc chứng minh giáo lý chân chính.
Đối với tôi, nó dường như là kết quả quan trọng nhất trong đời sống tinh thần của thời đại chúng ta, mà trong đó ngày càng được chú ý là có nhiều dấu hiệu của việc ủng hộ cho việc tìm kiếm và việc suy nghĩ lại là đáng kể.
Dĩ nhiên, tất cả những phương cách khác nhau này vẫn không có kết quả, bởi vì chúng không bắt nguồn từ nền tảng của sự hiểu biết, mà trong cơn cát bay của cảm giác. Ở đây, trong lĩnh vực của những người tìm kiếm này nằm trong tương lai của Phật giáo.
Tuy nhiên, trong thời hiện tại, cho đến nay, trong số những người tìm kiếm này, một số lượng lớn nhất vẫn bị mắc kẹt trong mạng lưới vàng của tấm lưới phiếm thần vĩ đại, mà con người thỏa mãn cảm giác dễ dàng hơn là sự tinh khiết của lọ thuốc Phật, vốn đã được tăng lên gần như mùi nhạt nhẻo thiếu sinh khí.
Nhưng nếu con người chỉ thực sự suy nghĩ, nếu họ thực sự đau khổ về tâm linh và nghe giáo lý, thì rất có thể họ sẽ an lạc hơn nếu có thể buộc phải suy nghĩ miên man qua tấm lưới vàng này, để giải thoát bản thân ra khỏi những chấp trước về vật chất hoặc thuộc trần thế và hòa tan chúng thành một cái gì đó nhẹ nhàng, tâm linh hoặc đẹp đẽ.
Không có gì xa hơn tâm trí của nhà tư tưởng đích thực hơn là nhiệt tình tham gia chống lại những tệ trạng của một thế giới chìm trong cơn thèm khát sự sống. Họ sẵn sàng để lại điều này cho những anh hùng về đức tin, những người, mà với lòng nồng nhiệt với các giá trị cảm xúc của họ, họ muốn hoà nhập mà bậc khai sáng đức tin tôn giáo đều mơ ước, miễn là người này không trở nên dao động trên chính thập giá. Nhà tư tưởng đích thực không thể làm gì khác ngoài việc thể hiện khi dạy rằng: „Đúng vậy!“ Anh ta không thể làm gì khác hơn là kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi gặp những tinh thần mà họ hiểu rằng, những người cộng hưởng một cách thuận lợi khi bản chất thực sự của cuộc sống và các giá trị của nó được thể hiện cho họ. Người bình thường sẽ chỉ cười nhạo về lời trình bày này hoặc nổi lên chống lại. Anh ta không thể hiểu rằng người ta có thể không cho sử dụng những khả năng sống, giống như một người thợ thủ công đói khát không thể hiểu rằng có thể không đụng đến một đồng xu bẩn thỉu trên đường đi.
Có người phản bác: „Do đó, trong thực tế, tầm quan trọng về văn hóa của Phật giáo là bằng không. Bởi vì hầu như không có bất kỳ người nào có khuynh hướng chấp nhận giáo lý của Đức Phật, ít nhất là không trong thế giới văn hóa của chúng ta.“
Nhưng kết luận này sai. Tất cả sinh hoạt tâm linh là một tình trạng tinh tấn. Giống như con người phát triển trong những điều kiện thể chất nhất định, họ cũng phát triển những khả năng tinh thần nhất định. Đối với đứa trẻ điều gì không thể hiểu được, và nếu người lớn kiệt sức để lập luận rõ ràng thuyết phục nhất, thì tự nhiên người ta không còn có bất kỳ lý lẽ nào. Đứa trẻ cũng trưởng thành trong tình trạng này. Tương tự như vậy, sẽ không có ích gì khi cố gắng áp đặt tư tưởng của Đức Phật trong một thế giới không hiểu với những lý lẽ thuyết phục nhất. Người ta không thể làm gì khác ngoài việc kiên nhẫn và lần lượt thể hiện sự kiên nhẫn cho đến khi cho nào thấy sự tinh tấn của cá nhân này đã tiến bộ đủ để có thể hiểu được những gì xuất hiện đối với anh ta như là sự bại hoại không thể hiểu được.
Đối với những người man rợ của vùng Xingu, dùng kỷ luật quân sự bằng những lời nói có vẻ cũng giống như lố bịch hoặc điên rồ, đối với chúng ta, trong kỷ luật của nền văn minh hiện đại, thì kỷ luật tư tưởng của Phật tử có vẻ như là tinh thần phấn đấu với sự kiên định sắt đá hướng tới thiên đàng dường như cũng lố bịch hoặc điên rồ. Người ta chỉ cần phải hiểu như vậy. Và để có thể hiểu, người ta phải dần dần tinh tấn. Phật giáo là kỷ luật, kỷ luật tự giác dựa trên một nhận thức đích thực về cuộc sống và các giá trị của nó.
Đó là lý do tại sao phải kiên nhẩn và tiếp tục thể hiện kiên nhẩn. Sức mạnh của chân lý là việc lên men. Nó không đến như đột ngột giác ngộ, nhưng phát sinh từng bước một trong suy ngẫm và nhẫn nại. Nhưng khi nó chỉ nắm bắt được hạt nhỏ nhất, sẽ phát triển thoát ra khỏi chính nó, thông qua chính nó.
Món quà lớn nhất và quý giá nhất là chân lý của giáo pháp (Kinh Pháp cú).
Sehr geehrter Herr Đỗ Kim Thêm,
vielen Dank für die Veröffentlichung des Textes „Die Bedeutung des Buddhismus für unsere Zeit“ von Paul Dahlke. Es ist verdienstvoll, historische buddhistische Quellen einem heutigen Publikum zugänglich zu machen und damit einen wichtigen Beitrag zur interkulturellen Geistesgeschichte zu leisten.
Paul Dahlke war zweifellos eine bedeutende Persönlichkeit der frühen europäischen Buddhismus-Rezeption. Seine Bemühungen um die Vermittlung des Theravāda-Buddhismus, seine Übersetzungen aus dem Pāli-Kanon sowie die Gründung des Buddhistischen Hauses in Berlin haben bis heute einen bleibenden kulturgeschichtlichen Wert.
Gerade deshalb erscheint es wichtig, seinen Text nicht nur mit Bewunderung, sondern auch mit kritischer Aufmerksamkeit zu lesen.
Der Aufsatz entstand im Jahr 1924 und trägt deutlich die geistigen Spannungen seiner Epoche in sich. Dahlkes Kritik an Materialismus, sozialer Entfremdung und religiösem Dogmatismus enthält Beobachtungen, die auch heute noch nachdenklich stimmen. Seine Forderung nach persönlicher Verantwortung, Selbstreflexion und ethischer Selbstdisziplin besitzt weiterhin Aktualität.
Gleichzeitig enthält der Text mehrere problematische Thesen, die aus heutiger Sicht hinterfragt werden sollten.
Erstens stellt Dahlke den Buddhismus als nahezu einzige vernünftige Antwort auf die Krisen der Moderne dar. Diese Sichtweise unterschätzt die Beiträge anderer philosophischer, religiöser und humanistischer Traditionen zur Entwicklung von Ethik, Menschenrechten, sozialer Verantwortung und friedlichem Zusammenleben.
Zweitens erscheint seine Darstellung des Christentums stark vereinfacht. Die christliche Ethik wird weitgehend auf Glaubensgehorsam und Gottesfurcht reduziert. Dabei bleiben zentrale Aspekte wie Nächstenliebe, Gewissensethik, soziale Gerechtigkeit und die lange Tradition christlicher Sozialphilosophie weitgehend unberücksichtigt.
Drittens begründet Dahlke die Lehre von Karma und Wiedergeburt mit einer Sprache, die sich teilweise auf naturwissenschaftliche Begriffe wie „Energie“ stützt. Aus heutiger wissenschaftlicher Perspektive können solche Analogien zwar philosophisch anregend sein, sie stellen jedoch keinen empirischen Nachweis für Karma oder Wiedergeburt dar. Die moderne Physik bestätigt diese Lehren nicht.
Viertens wirkt seine Deutung des Lebens teilweise ausgesprochen pessimistisch. Wenn das Leben letztlich als etwas beschrieben wird, das „besser nicht vorhanden wäre“, entfernt sich diese Sicht von vielen anderen buddhistischen Interpretationen, die Mitgefühl, Lebensbejahung, Befreiung und die Möglichkeit menschlicher Entfaltung stärker betonen.
Schließlich fällt auf, dass gesellschaftliche Probleme wie Armut, Kriminalität oder Krieg fast ausschließlich auf individuelle geistige Ursachen zurückgeführt werden. Moderne Sozialwissenschaften zeigen jedoch, dass solche Phänomene auch durch politische, wirtschaftliche und institutionelle Faktoren entstehen, die nicht allein durch persönliche Bewusstseinsveränderungen erklärt werden können.
Gerade deshalb liegt der Wert dieses Textes meines Erachtens heute weniger darin, fertige Antworten zu liefern, sondern vielmehr darin, wichtige Fragen aufzuwerfen: Wie entsteht ethisches Handeln? Welche Rolle spielen Selbstverantwortung und Mitgefühl? Wie kann der Mensch in einer zunehmend technisierten Welt zu innerer Orientierung finden?
In diesem Sinne danke ich Ihnen für die Möglichkeit, sich erneut mit den Gedanken Paul Dahlkes auseinanderzusetzen. Eine historisch-kritische Lektüre kann dazu beitragen, sowohl die Stärken als auch die Grenzen seines Denkens besser zu verstehen.
Mit freundlichen Grüßen
Hans Gamma
LikeLike