Niall Fergusion
Đỗ Kim Thêm dịch

Mọi người đều biết dòng chử nổi tiếng từ đoạn kết của cuốn tiểu thuyết còn dang dở The Last Tycoon của F. Scott Fitzgerald: „Không có màn thứ hai trong cuộc sống của người Mỹ.“ Nhưng Fitzgerald không nói về cơ hội thứ hai. Ông muốn nói, không giống như một vở kịch theo truyền thống là màn I trình bày vấn đề, màn II tiết lộ những phức tạp và màn III giải quyết tất cả, người Mỹ muốn bỏ qua màn II và đi thẳng đến giải pháp.
Càng nghĩ về điều đó, tôi càng nghĩ rằng nhiệm kỳ tổng thống của Joe Biden là màn II và Donald Trump không phải là nhân vật như trong The Last Tycoon. Trump sẽ đóng trong màn III và là tổng thống tiếp theo.
Chiến dịch kiện tụng chống ông đã bắt đầu phản tác dụng
Các nhà chiến lược thuộc đảng Dân chủ lại nghĩ khác. Đầu tiên, họ tin rằng Biden sẽ luôn đánh bại Trump, ngay cả khi bằng cách nào đó họ đối mặt nhau trong mỗi cuộc bầu cử tổng thống từ bây giờ cho đến khi chuyện này sẽ không xảy ra. Thứ hai, họ tin rằng vô số các rắc rối về pháp lý của Trump cuối cùng sẽ nhận chìm ông với tư cách là một ứng cử viên. Cả hai quan điểm này phản lại sự thất bại của trí tưởng tượng.
Thật vậy, đó là sự thật: Trump là cựu tổng thống đầu tiên phải đối phó với các cáo buộc về hình sự, sau khi bồi thẩm đoàn bỏ phiếu truy tố ông vào ngày 30 tháng 3 về việc thanh toán các khoản tiền để che giấu cho tài tử khiêu dâm Stormy Daniels. Trường hợp đó chỉ là một trong mười bảy vụ kiện và điều tra mà tổng thống thứ 45 hiện đang phải đối mặt. Hôm thứ Ba, trong một vụ án dân sự, bồi thẩm đoàn Manhattan đã kết luận Trump phải chịu trách nhiệm về tội lạm dụng tình dục và phỉ báng (mặc dù không hãm hiếp) nhà báo E. Jean Carroll, trả cho nạn nhân 5 triệu đô la tiền bồi thường thiệt hại. Carroll không thể nhớ liệu vụ tấn công bị cáo buộc xảy ra vào năm 1995 hay 1996.
Tuy nhiên, chiến dịch kiện tụng chống Trump đã bắt đầu phản tác dụng. Điều này không làm chúng ta ngạc nhiên. Hãy xem đến tám trường hợp gần đây trên khắp thế giới khi một ứng cử viên tổng thống hàng đầu hoặc thủ tướng bị truy tố. Một số – Luiz Inácio Lula da Silva của Brazil, Silvio Berlusconi của Ý và Anwar Ibrahim của Malaysia – đã dàn dựng được sự trở lại chính trường sau khi bị cấm tham gia chính sự do việc bị kết án hoặc bỏ tù. Những người khác – Jacob Zuma của Nam Phi và Benjamin Netanyahu của Israel – đã tiếp tục thành công trong chính trị mặc dù các vụ án hình sự buộc tội họ còn đang tiếp diễn. (Luật bắt giử Zuma sau khi ông hết nắm quyền.) Pháp nổi bật với một ngoại lệ: bản cáo trạng của ba ứng cử viên tổng thống Dominique Strauss-Kahn, cựu thủ tướng François Fillon và cựu tổng thống Nicolas Sarkozy, tất cả đều kết thúc các chiến dịch tranh cử tổng thống của họ.
Vừa mới đến thăm Brazil, tôi có thể nói với niềm tin rằng trường hợp của Lula là sự tương tự gần nhất, nhất là vì Hoa Kỳ và Brazil dường như đang hội tụ về khía cạnh văn hóa chính trị.
Nếu Lula có thể trở lại sau một năm rưỡi ngồi tù để thắng cử, Trump có thể không có gì phải lo lắng về việc này, vì không có cơ hội nhỏ nhất để ông bị giam từ nay cho đến ngày bầu cử vào năm sau. Thật vậy, nhận thức rằng các hoạt động của đảng Dân chủ đang sử dụng hệ thống pháp lý cho các mục đích chính trị có thể sẽ giúp Trump giành được phiếu. Đó là một câu chuyện hay hơn nhiều so với tuyên bố trước đó của ông rằng cuộc bầu cử năm 2020 đã bị đánh cắp, điều mà giờ đây hầu hết mọi người đều chán nản ngoại trừ chính Trump.
Có vẻ như là nghịch lý khi đảng Dân chủ đang quấy rối Trump tại các tòa án nếu họ muốn tranh cử để chống ông. Nhưng điều đó có ý nghĩa: cảnh ông đi bộ gây được thu hút cho giới truyền thông tường thuật, và truyền thông đưa tin là sự quảng cáo miễn phí mà Trump luôn phát triển mạnh. Mỗi cột báo hoặc phút phát sóng tường thuật về cuộc chiến pháp lý của ông là mỗi cột báo hoặc phút phát sóng dành ít hơn cho các đối thủ của đảng Cộng hòa trong việc đề cử.
Nếu đó là một cuộc tranh tài giữa hai người, thì kết quả sẽ có rất nhiều điều không chắc. Thống đốc Florida Ron DeSantis thậm chí còn không tuyên bố ý định tranh cử cho đề cử của đảng Cộng hòa. Mặc dù vậy, ông đã gây quỹ thành công hơn Trump, nhất là vì giới tài trợ rõ ràng là thích giới trẻ và có năng lực cầm quyền. Trong cuộc thăm dò đối đầu, DeSantis dường như vẫn đang trong cuộc đua.
Nhưng đây sẽ không phải là một cuộc thi hai người. Cựu Đại sứ Liên Hiệp Quốc Nikki Haley cũng tham gia. Vì vậy, có lẽ là Cựu Phó tổng thống của Trump, Mike Pence. Thượng nghị sĩ Tim Scott của Nam Carolina và cựu Thống đốc New Jersey Chris Christie cũng có vẻ quan tâm – cũng như Glenn Youngkin, thống đốc Virginia, người sẽ chỉ nói rằng sẽ không tranh cử „trong năm nay“. Và đừng quên Vivek Ramaswamy. Chỉ có cựu Ngoại trưởng Mike Pompeo chắc chắn đã bỏ cuộc.
Khi cử tri được thăm dò về lĩnh vực đông đảo này, Trump là người dẫn đầu rõ ràng dẫn trước DeSantis với tỷ lệ trung bình gần ba mươi điểm, 52,1% so với 22,9. Điều này được so sánh với việc dẫn đầu chỉ mười ba điểm vào tháng Giêng. Một ứng cử viên khác có tỷ lệ ủng hộ trên 5% là Pence.
Tại thời điểm này, bắt buộc phải nói rằng đó là còn rất sớm và rất nhiều điều có thể xảy ra trong mười tám tháng tới, và đó là sự thật. Một năm rưỡi trước tháng 11/2020, không nhiều người tiên đoán được một trận đại dịch trong toàn cầu.
Từ năm 1972, ứng cử viên mà họ dẫn đầu được trong cuộc thăm dò ban đầu đã giành được sự đề cử của đảng trong khoảng hơn một nửa của cuộc bầu cử sơ bộ để tranh chức tổng thống. Tuy nhiên, đây là đảng Cộng hòa mà chúng ta đang nói đến, không phải đảng Dân chủ. Những ứng cử viên hàng đầu đã thắng trong các cuộc bầu sơ bộ của đảng Cộng hòa là sáu trong số tám cuộc đua cạnh tranh kể từ năm 1972, khi hệ thống bầu cử sơ bộ hiện đại được giới du nhập. Hai trường hợp ngoại lệ là John McCain năm 2008 và chính Trump năm 2016.
Tiến trình bầu cử sơ bộ của đảng Cộng hòa dành ưu tiên cho các ứng cử viên dẫn đầu trước tiên vì hầu hết các tiểu bang dành phần cho các đại biểu trên cơ sở „người thắng chiếm tất cả“ hoặc „người thắng chiếm nhiều nhất“. Ngược lại, trong các cuộc bầu cử sơ bộ của đảng Dân chủ, các đại biểu thường được chỉ định theo tỷ lệ tuỳ theo kết quả, và người dẫn đầu trước đã thắng chỉ là bốn trong số mười một cuộc tranh cử.
Nếu ông Trump duy trì số thăm dò trung bình hiện tại trong sáu tháng đầu năm 2023 nhưng không trở thành sự lựa chọn để đề cử để làm tổng thống của đảng Cộng hòa, ông sẽ là ứng cử viên có tỷ lệ thăm dò cao nhất từ trước đến nay mà không giành được việc đề cử. Ông sẽ cùng gia nhập vào nhóm những ứng viên hàng đầu nhưng thất bại trong việc đề cử giống như Ted Kennedy, Ed Muskie, Rudy Giuliani, Hillary Clinton (trong cuộc tranh cử năm 2008) và Scott Walker.
Ngược lại, nếu Ron DeSantis đánh bại Trump để được đề cử, đó sẽ là một sự đảo lộn nghiêm trọng hơn là chiến thắng của Barack Obama đối với Hillary Clinton trong năm 2008. Nói tóm lại, trừ khi đảng Cộng hòa bằng cách nào đó đã biến thành đảng Dân chủ, hiện nay, việc đề cử của đảng Cộng hòa là để cho Trump thua cuộc.
Những gì chúng ta đã chứng kiến trong hai năm qua là một thất bại chính sách tiền tệ quá đặc biệt
Và việc này đưa chúng ta đến giả định của đảng Dân chủ rằng Trump không thể đánh bại Biden, kết quả này phụ thuộc rất nhiều vào thành quả kém cỏi của Trump không chỉ trong năm 2020, mà còn trong các cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2018 và 2022, khi các ứng cử viên mà ông ủng hộ đạt hiệu quả kém. Việc toán cộng tác với Biden sẵn sàng tuyên bố ý định tái tranh cử sớm hơn là muộn cho tôi biết là họ quá tự tin.
Hãy đối mặt với việc này: Biden không được lòng dân như các nhà lãnh đạo trên thế giới. Ở từng các quốc gia, Narendra Modi (Ấn Độ), Andrés Manuel López Obrador (Mexico), Anthony Albanese (Úc), Lula (Brazil) và Giorgia Meloni (Ý) đều được yêu thích hơn. Nếu bạn nhìn vào sự hài lòng trong công việc của Biden, khi sử dụng mức tính trung bình của RealClearPolitics, hiện nay ông không được ưa chuộng hơn một chút (tỷ lệ ủng hộ thuần là âm 11,6%) so với Trump ở giai đoạn này trong nhiệm kỳ tổng thống của mình (âm 10,7%).
Trump cũng không phải là người không được ưa chuộng. Thật vậy, trong thời điểm này, Trump ít được ưa chuộng hơn so với tám năm trước. Vào tháng 7/2015, con số bất lợi thuần của Trump là âm 39,3%. Ngày nay, nó là âm 16 %. Sau đó, chỉ có 23% cử tri có cái nhìn tích cực về ông. Bây giờ là 39 %. Con số của RealClear đưa ra đối với Joe Biden là 41% và bất lợi thuần của ông là âm 12%.
Và đó là tình trạng tranh cử trong thời điểm hiện tại. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu có một cuộc suy thoái trong khoảng thời gian từ nay cho đến năm tới? Đó không phải là một điều chắc chắn. Có nhiều nhà kinh tế thông minh vẫn tin rằng có thể có một cuộc „hạ cánh an toàn“, bất chấp tất cả những lo lắng gần đây gây ra bởi sự thất bại của các ngân hàng Mỹ (và Thụy Sĩ). Trong một cuộc phỏng vấn với CNBC, Giám đốc điều hành của Apollo Global Management, Mark Rowan, thậm chí còn sử dụng cụm từ „suy thoái không suy thoái“, điều mà chúng ta phải hy vọng rằng nó không xảy ra.
Mặt khác, cựu Bộ trưởng Tài chính Larry Summers đã có một hoạt động khá tốt, kể từ khi ông nêu ra các sai lầm về lạm phát của chính quyền Biden vào tháng 2/2021 và tuần trước ông nói rằng có 70% sác xuất sẽ suy thoái xảy ra trong năm tới. Ông không chỉ là người duy nhất (nghĩ như vây).
Tôi cũng đang kiên nhẩn chờ. Những gì chúng ta đã chứng kiến trong hai năm qua là một thất bại chính sách tiền tệ bất thường. Vào tháng 6/2021, các thành viên của Federal Open Market Committee cho rằng mục tiêu cho tỷ lệ lãi suất của quỹ liên bang trong năm nay sẽ nằm trong khoảng từ 0 đến 1,75%. Đến tháng 3 năm nay, họ phải điều chỉnh lại những con số đó lên từ 4,75 đến 6%. Khi không quan tâm đến vấn đề có thể xảy ra vào năm 2021, họ đã tăng lãi suất ngắn hạn để cố gắng đưa lạm phát trở lại dưới mức 2%. Nhưng họ vẫn còn một chặng đường dài để đạt được điều đó.
Khi các ngân hàng trung ương thích đổi giọng, chính sách tiền tệ hoạt động với mức độ trì trệ dài dẳng và thay đổi. Mức độ trì trệ hiện tại đang mất nhiều thời gian hơn mọi người nhận định. Các cuộc suy thoái giống như các phản ứng dây chuyền chậm chạp. Tín hiệu từ chính sách về lãi suất cho đến nền kinh tế rộng lớn hơn đi qua nhiều kênh, nhưng quan trọng nhất là khối lượng tín dụng ngân hàng.
Trong mười hai tháng tính đến tháng ba, tổng số tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế Mỹ đã giảm về mặt thực tế. Điều đó hiếm khi xảy ra. Từ năm 1960, nó chỉ xảy ra chỉ trong hoặc ngay sau hậu quả của cuộc suy thoái. Đây là chỉ số cần theo dõi, cùng với các cuộc khảo sát của người vay và người cho vay.
Các chỉ số giả tạo là những chỉ số theo dõi về thái độ của người tiêu dùng và thị trường lao động, nó vẫn có vẻ mạnh mẽ. Trong những con số mới nhất về GDP, tình trạng tiêu dùng vẫn tăng. Nhưng đầu tư không thuộc về gia cư đã suy giảm. Trò chơi bắt bí hiện nay về vấn đề mức trần nợ khiến cho tình trạng suy thoái có nhiều sác xuất xảy ra hơn. Như trong năm 2011, cuộc hạ màn có thể sẽ được giải quyết vào phút cuối, trong vòng hai mươi bốn giờ kể từ „ngày X“, sau đó Bộ Tài chính phải cắt giảm công chi hoặc vỡ nợ đối với một phần nợ liên bang. Nhưng cuộc khủng hoảng trần nợ năm 2011diễn ra trong việc phục hồi chậm chạp từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, khi lạm phát và lãi suất gần với giới hạn thấp hơn bằng không. Nguy cơ xảy ra tai nạn trong thị trường trái phiếu hiện nay cao hơn nhiều.
Điều này cho tôi thấy rằng Joe Biden đang có nguy cơ nghiêm trọng theo sau Gerald Ford, Jimmy Carter và George H.W. Bush vào trong thùng rác được đánh dấu là „tổng thống một nhiệm kỳ“. Tại sao? Vì lý do đơn giản là kể từ Calvin Coolidge một thế kỷ trước, không có tổng thống nào đã đảm bảo tái tranh cử nếu một cuộc suy thoái xảy ra trong hai năm trước khi cả nước bỏ phiếu. Nó không cần phải nghiêm trọng như cuộc Đại suy thoái đã phá hủy nhiệm kỳ tổng thống của Herbert Hoover. Một cuộc suy thoái đơn giản là đủ.
Sau đại hội đảng Cộng hòa năm 1976, trong cuộc thăm dò của viện Gallup, Ford đã đứng sau Carter đối thủ của mình ba mươi ba điểm. Chiến dịch tranh cử của ông đã làm một thành tích phi thường trong việc thu hẹp khoảng cách, để kết quả gần như đạt được. Nhưng đối với đảng Cộng hòa, như tờ New York Times đưa ra trong bài tường thuật ngay sau cuộc bầu cử, „đã treo cái bóng của Richard M. Nixon và một nền kinh tế lung lay một cách nguy hiểm“.
Năm 1980, đến lượt Carter thất cử, một phần vì „sự từ chối vào phút chót trong việc xử lý nền kinh tế“, một phần vì cuộc khủng hoảng về việc bắt con tin tại Iran. „Lạm phát và thất nghiệp là lực cản liên tục đối với Carter trong suốt cuộc đua“, New York Times tường thuật. Vấn đề này trở nên nổi bật hơn khi Reagan nhấn mạnh khi ông kết thúc cuộc tranh luận trong cuộc tranh luận ở Cleveland bằng cách nói, ‚Hãy tự hỏi mình, bạn có tốt hơn so với bốn năm trước không?'“
Và vào năm 1992, Bill Clinton đã tranh cử về „nền kinh tế, chuyện ngu ngốc“, một trong ba điểm trên một tấm biển mà nhà chiến lược chính James Carville của ông treo trong trụ sở chiến dịch ở Little Rock, Arkansas. (Những dấu hiệu khác là „Thay đổi so với nhiều hơn giống nhau“ và „Đừng quên việc chăm sóc sức khỏe.“)
Nếu bạn nghĩ rằng nền kinh tế sẽ không phải là vấn đề như trong cuộc bầu cử năm 2024, tôi đã có huy hiệu Whip Inflation Now để bán cho bạn (Whip Inflation Now (WIN) là một chiến dịch do Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford kêu gọi vào năm 1974 nhằm thúc đẩy một phong trào trong quần chúng để chống lạm phát, bằng cách khuyến khích tiết kiệm cá nhân và thói quen chi tiêu có kỷ luật kết hợp với các biện pháp tiết kiệm công chi. Chú thúch của ngưởi dịch.)
Hãy nhìn vào cuộc thăm dò của viện Gallup về „sự hài lòng với cách đang diễn ra ở Mỹ“. Con số này hiện đang ở mức năm 1980, bằng một nửa so với bốn năm trước, trước đại dịch. Chỉ số về niềm tin kinh tế của viện Gallup đang là tiêu cực nặng nề, trái ngược với thời Trump. Và đây là trước bất kỳ cuộc suy thoái nào.
Người ta không bao giờ có thể loại trừ những bất ngờ trong nền chính trị của Mỹ. Có lẽ Peggy Noonan đã hợp lý khi cho là Robert F. Kennedy, người đang tranh việc đề cử của đảng Dân chủ, có thể đặt ra một thách thức thực sự đối với Biden. Rốt cuộc, Kennedy có cái tên thu hút, ngay cả khi là người chống vắc-xin. Có lẽ thượng nghị sĩ Joe Manchin của West Virginia đã ám chỉ về một cuộc tranh cử tổng thống khi đưa ra lời tuyên bố vào tuần trước: „Đừng phạm sai lầm, tôi sẽ thắng trong bất kỳ cuộc đua nào mà tôi tham gia.“ Nhưng bài học lịch sử rất rõ ràng – ứng cử viên hàng đầu của đảng Cộng hòa thường giành được việc đề cử, và một người đương nhiệm sau suy thoái thường thua trong cuộc bầu cử tổng thống.
Trump gần như chắc chắn sẽ tìm cách áp đặt một nền hòa bình thỏa hiệp cho Ukraine
Tất cả những việc đặt ra vấn đề cái gì là ý nghĩa của việc Trump trở lại Nhà Trắng vào tháng 1/2025. Rõ ràng, không khí sẽ tràn ngập âm thanh của những cái đầu tự do và tiến bộ nổ tung – chưa kể đến việc nghiến răng và xé quần áo của đảng Cộng hòa với khẩu hiệu Không bao giờ Trump. Nhưng, như năm 2016, các nhà đầu tư sẽ lặng lẽ lạc quan hơn trước triển vọng trở lại nắm quyền của các nhà hoạch định chính sách như Kevin Hassett và Chris Liddell, giả sử họ sẵn sàng phục vụ trở lại. Việc tái lập ban nhạc mang lại cho bạn „bãi bỏ quy định và cắt giảm thuế đầu tư“ – mang lại kết quả kinh tế tốt như vậy – sẽ mang lại cho chứng khoán Mỹ một sự thúc đẩy mà họ có thể rất cần vào thời điểm đó.
Trong khi đó, việc Trump tái đắc cử sẽ làm thay đổi trong tiến trình về chính sách đối ngoại của Mỹ theo những cách đáng kể. Mặc dù đã có một sự liên tục trong chính sách từ nhiệm kỳ tổng thống của ông đến nhiệm kỳ của Biden – đáng chú ý là việc tiếp tục áp thuế quan đối với Trung Quốc, mặc dù hiệu quả không đáng kể – Trump 2.0 nhiều khả năng sẽ đi chệch hướng đáng kể so với chiến lược an ninh quốc gia của Biden.
Điều này sẽ đặc biệt xảy ra nếu, dường như có thể xảy ra, Trump tránh gây trở ngại cho mình với các quân nhân có ý thức tìm cách gây ảnh hưởng kiềm chế. Trump ủng hộ cho một cuộc chiến thương mại với Trung Quốc, không phải là một cuộc chiến tranh lạnh. Ông không cam kết mạnh mẽ trong việc bảo vệ Đài Loan. Ông gần như chắc chắn sẽ tìm cách áp đặt một nền hòa bình thỏa hiệp đối với Ukraine, vì ông coi Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky với một điều gì đó ít tôn trọng hơn, và có khuynh hướng ồn ào làm ăn với Vladimir Putin. Và Trump sẽ từ bỏ chính sách Trung Đông thất bại trong việc tìm cách khôi phục thỏa thuận hạt nhân không còn tồn tại với Iran và gây thù địch với Ả Rập Saudi.
Có lẽ tất cả điều này là một ảo tưởng. Rốt cuộc, một bài học khác của lịch sử là chỉ có một tổng thống trước đó đảm bảo nhiệm kỳ thứ hai không liên tiếp: Grover Cleveland vào năm 1892. Như Jim Carville hiểu, „thay đổi“ thường đánh bại „nhiều thứ giống nhau hơn“ ở Mỹ. Nhưng đừng để bất cứ ai trích dẫn lời của F. Scott Fitzgerald cho bạn. Một màn thứ hai của Trump không chỉ có thể. Nó nhanh chóng trở thành trường hợp cơ bản của tôi.
***
Niall Ferguson là Chuyên gia nghiên cứu cao cấp tại Học Viện Hoover, Đại học Stanford và Bình luận gia cho chuyên trang Ý kiến của Bloomberg
13 Gedanken zu “Trump vẫn còn có thể thắng trong nhiệm kỳ thứ hai cho dù mọi chuyện xảy ra”